TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - TỈNH VĨNH LONG
BẢN ÁN 56/2025/HS-ST NGÀY 11/09/2025 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Ngày 27 tháng 9 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5-Vĩnh Long, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2025/TLST-HS ngày 11/9/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2025/QĐXXST-HS ngày 15/9/2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1980 tại tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: ấp A, xã M, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre); căn cước công dân số: 0830800xxxxxxx; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Phạm Thị H; bị cáo từng có vợ tên: Nguyễn Thị Ngọc D (đã ly hôn); con: có 01 người con sinh năm 2006.
Tiền án: có 02 tiền án:
-Bản án Hình sự sơ thẩm số 27/2022/HSST ngày 09/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Vĩnh Long) xử phạt Nguyễn Hoàng T 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản;
-Bản án Hình sự sơ thẩm số 35/2022/HSST ngày 20/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Vĩnh Long) xử phạt Nguyễn Hoàng T 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt với Bản án Hình sự sơ thẩm số 27/2022/HSST ngày 09/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Vĩnh Long) buộc Nguyễn Hoàng T chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án là 03 năm tù (chấp hành xong hình bản án ngày 27/01/2025).
Tiền sự: không; Nhân thân:
-Tại Quyết định đưa vào Trung tâm giáo dục nghề số 49/QĐ-XPHC ngày 05/01/2001 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B (nay là tỉnh Vĩnh Long) đưa Nguyễn Hoàng T vào Trung tâm giáo dục nghề thời hạn 06 tháng do có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong ngày 05/7/2001;
-Tại Quyết định xử phạt hành chính số 26/QĐ-XPHC ngày 10/6/2015 của Công an xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre (nay là xã M, tỉnh Vĩnh Long) xử phạt Nguyễn Hoàng T số tiền 750.000 đồng, do có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”;
-Tại Quyết định xử phạt hành chính số 39/QĐ-XPHC ngày 01/8/2015 của Công an xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre xử phạt Nguyễn Hoàng T số tiền 900.000 đồng, do có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”;
-Tại Quyết định xử phạt hành chính số 18/QĐ-XPHC ngày 22/11/2015 của Công an thị trấn M, huyện M, tỉnh Bến Tre (nay là xã M, tỉnh Vĩnh Long) xử phạt Nguyễn Hoàng T số tiền 1.000.000 đồng, do có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”;
-Tại Quyết định xử phạt hành chính số 15/QĐ-XPHC ngày 26/7/2016 của Công an xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre xử phạt Nguyễn Hoàng T số tiền 1.000.000 đồng, do có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”;
-Tại Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã số 309/QĐ-UBND ngày 21/10/2016 của Chủ tịch UBND xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre đối với Nguyễn Hoàng T thời hạn 03 tháng, do có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 13/12/2016, chấm dứt do tiếp tục vi phạm.
-Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 01/QĐ-TA ngày 09/01/2017 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre, đưa Nguyễn Hoàng T vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng do có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 13/7/2018;
-Tại Quyết định xử phạt hành chính số 39/QĐ-XPHC ngày 28/8/2018 của Công an thị trấn M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long xử phạt Nguyễn Hoàng T số tiền 750.00đồng, do có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”;
-Tại Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã số 200/QĐ-UBND ngày 06/12/2018 của Công an xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre, áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với Nguyễn Hoàng T thời hạn 03 tháng, do có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 06/3/2019;
-Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc số 06/QĐ-TA ngày 05/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre ra, đưa Nguyễn Hoàng T vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng do có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 16/8/2020;
-Tại Quyết định xử phạt hành chính số 23/QĐ-XPHC ngày 17/8/2021 của Công an xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre xử phạt Nguyễn Hoàng T số tiền 1.500.000 đồng, do có hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/8/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1.Đào Thị Tường L, sinh năm 1966; nơi cư trú: số D, đường Đ, khu phố A, phường A, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt
2.Bùi Minh T2, sinh năm 1990; nơi cư trú: số A, ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1.Quách Liên T3, sinh năm 1963; nơi cư trú: số D, đường Đ, khu phố A, phường A, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt
2.Phạm Thúy O, sinh năm 1987; nơi cư trú: số B, khu phố B, phường P, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt
3.Nguyễn Thị Minh H1, sinh năm 1980; nơi cư trú: ấp T, phường M, tỉnh An Giang. Vắng mặt
4.Bùi Minh P, sinh năm 1996; nơi cư trú: ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt, trong khoảng thời gian từ ngày 23/6/2025 đến ngày 27/7/2025, trên địa bàn phường A và phường S, tỉnh Vĩnh Long, T đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác 02 lần:
Vụ thứ nhất: Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 23/6/2025, Nguyễn Hoàng T đi bộ trên Đường Đ từ Vòng xoay Chợ Ngã Năm về Bệnh viện Đ, Khu phố A, phường A, tỉnh Vĩnh Long. Khi ngang qua Nhà số D, Đường Đ, Khu phố A, phường A, tỉnh Vĩnh Long của chị Đào Thị Tường L, T thấy xe mô tô nhãn hiệu: Honda, loại xe: Future Neo, Biển số: 71S8 - 1xxxxx của chị L dựng trước cửa nhà, không ai trông coi, trên xe có gắn chìa khóa khởi động nên T nảy sinh ý định lấy trộm xe. T ngồi lên xe, khởi động và điều khiển xe chạy về hướng Ngã tư T, phường P, tỉnh Vĩnh Long, đến quán cà phê ở số B, Khu phố B, phường P, tỉnh Vĩnh Long do chị Phạm Thúy O làm chủ, T hỏi O cho T cầm xe mô tô Biển số: 71S8 - 1xxxxx với giá 2.500.000 đồng, O đồng ý nhận xe mô tô trên và đưa cho T 2.500.000 đồng. Khoảng 08 giờ 05 phút ngày 24/6/2025, T gặp Nguyễn Thị Minh H1, T nói với H1 xe mô tô Biển số: 71S8xxxxxx của T, do kẹt tiền nên T cần bán xe mô tô trên. H1 đồng ý mua xe mô tô Biển số: 71S8 – xxxxxx với giá 3.100.000 (Ba triệu một trăm nghìn) đồng. T trả cho O 2.500.000 đồng để lấy lại xe mô tô Biển số: 71S8 – xxxxxx giao cho H1, số tiền còn lại T tiêu xài cá nhân hết.
Công an phường A thu giữ hình ảnh Camera đặt tại Nhà số D, Khu phố A, phường A, tỉnh Vĩnh Long do bà Đặng Thị Kim T4 giao nộp phản ánh hành vi phạm tội của Nguyễn Hoàng T.
Vật chứng tạm giữ:
Do Nguyễn Thị Minh H1 giao nộp: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: Honda, loại xe: Future Neo, Biển số: 71S8 - 1xxxxx, Số máy: 5E-2006xxx; Số khung: 97Y- 804xxx.
Do Nguyễn Hoàng T giao nộp: 01 (một) áo khoác bằng vải, mặt ngoài màu đen có sọc trắng, loại áo dài tay, màu trắng; mặt trong màu đen; 01 (một) áo khoác màu xám trắng, loại áo dài tay, có nón đội, có thêu chữ Champion; 01 (một) nón lưỡi trai phía trước màu xám đen, có thêu hình đầu hổ, phía sau có lưới màu đen; 01 (một) quần Jean màu xanh dương.
Vụ thứ hai: khoảng 08 giờ 30 phút ngày 27/7/2025, Nguyễn Hoàng T đi bộ trên đường T từ Quốc lộ F về đường Đ, đến phía trước Cửa hàng quần áo “Xí X” ở Số B, Đường T, khu phố B, phường S, tỉnh Vĩnh Long của anh Bùi Minh P, T thấy xe mô tô nhãn hiệu: Yamaha, loại xe: Exciter, Biển số: 71B2 - xxxxxxxx của anh Bùi Minh T2. Anh T2 là anh ruột của P giao xe cho anh P quản lý, sử dụng) dựng trước cửa hàng, không người trông coi, trên xe có gắn chìa khóa nên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, T đến vị trí xe, mở chìa khóa khởi động xe, dẫn xe ra lùi về phía Đường T, cách vị trí dựng xe khoảng 01 mét. Lúc này, anh P đang ở bên trong cửa hàng nhìn thấy T lấy xe nên chạy ra ngăn cản, giữ T và trình báo Công an phường S.
Công an phường S thu giữ hình ảnh Camera đặt tại Cửa hàng quần áo Xí X do anh Bùi Minh P giao nộp phản ánh hành vi phạm tội của Nguyễn Hoàng T.
Vật chứng tạm giữ: do anh Bùi Minh P giao nộp: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: Yamaha, loại xe: Exciter, Biển số: 71B2 - xxxxxxxx.
Kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐGTS ngày 21/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Vĩnh Long kết luận: xe mô tô Biển số 71S8 - 1xxxxx, nhãn hiệu: Honda, loại xe: Future Neo, màu sơn: xám - bạc - đen, Số máy: 5E-2006xxx, Số khung: 97Y-xxx, giá trị tài sản ngày 23/6/2025 là: 14.666.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 55/KL-HĐĐGTS ngày 21/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Vĩnh Long kết luận: xe mô tô nhãn hiệu: Yamaha, số loại: EXiter, màu sơn: xanh - bạc, biển số: 71B2 - xxxxxxxx, số máy: G3D4E28xxxxxxxx, số khung: 0610GY274xxxxxx có giá trị tài sản ngày 27/7/2025 là: 12.500.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản T chiếm đoạt của bị hại Đào Thị Tường L và Bùi Minh T2 là 27.166.000 đồng.
Bị hại Đào Thị Tường L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu Nguyễn Hoàng T bồi thường gì khác và bị hại có lời khai yêu cầu giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can Nguyễn Hoàng T.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bùi Minh P không bị thiệt hại về tài sản nên không yêu cầu Nguyễn Hoàng T bồi thường và bị hại có lời khai yêu cầu giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can Nguyễn Hoàng T.
Bị hại Bùi Minh T2 đã nhận được tài sản và không yêu cầu Nguyễn Hoàng T bồi thường gì khác.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Minh H1 không yêu cầu Nguyễn Hoàng T bồi thường số tiền 3.100.000 đồng chị dùng để mua xe mô tô Biển số: 71S8 - 1xxxxx sau đó bị thu hồi.
Ngày 28/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V đã ra Quyết định xử lý vật chứng số B1531/QĐ-VPCQCSĐT trả cho bị hại Đào Thị Tường L xe mô tô nhãn hiệu: Honda, loại xe: Future Neo, Biển số: 71S8 - 1xxxxx; trả cho anh Bùi Minh T2 xe mô tô nhãn hiệu: Yamaha, loại xe: Exciter, Biển số: 71B2 - xxxxxxxx.
Đối với 01 (một) áo khoác bằng vải, mặt ngoài màu đen có sọc trắng, loại áo dài tay, màu trắng; mặt trong màu đen; 01 (một) áo khoác màu xám trắng, loại áo dài tay, có nón đội, có thêu chữ Champion; 01 (một) nón lưỡi trai phía trước màu xám đen, có thêu hình đầu hổ, phía sau có lưới màu đen; 01 (một) quần Jean màu xanh dương là trang phục Nguyễn Hoàng T mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định.
Quá trình điều tra, Nguyễn Hoàng T đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của T phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, hình ảnh Camera ghi lại hình ảnh T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và các chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập.
Tại Cáo trạng số 34/CT-VKSKV5 ngày 10/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5-Vĩnh Long đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung cáo trạng và đề nghị:
Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo từ 01 năm 6 tháng đến 02 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp: ghi nhận bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo trả lại tiền đã mua xe của bị cáo.
Về xử lý vật chứng, Ghi nhận, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản cho bị hại, bị hại không có yêu cầu nào khác.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo khoác bằng vải, mặt ngoài màu đen có sọc trắng, loại áo dài tay, màu trắng; mặt trong màu đen; 01 (một) áo khoác màu xám trắng, loại áo dài tay, có nón đội, có thêu chữ Champion; 01 (một) nón lưỡi trai phía trước màu xám đen, có thêu hình đầu hổ, phía sau có lưới màu đen; 01 (một) quần Jean màu xanh dương là trang phục Nguyễn Hoàng T mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo không khiếu nại các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng trong quá trình điều tra, họ đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng, sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ là phù hợp quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2]Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, đủ cơ sở xác định: trong khoảng thời gian từ ngày 23/6/2025 đến ngày 27/7/2025, trên địa bàn phường A và phường S, tỉnh Vĩnh Long, T đã thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản của người khác 02 lần:
Vụ thứ nhất: khoảng 08 giờ 30 phút ngày 23/6/2025, tại trước Nhà số D, Đường Đ, Khu phố A, phường A, tỉnh Vĩnh Long, Nguyễn Hoàng T có hành vi lén lút chiếm đoạt của chị Đào Thị Tường L 01 xe mô tô nhãn hiệu: Honda, loại xe: Future Neo, Biển số: 71S8 - 1xxxxx, trị giá 14.666.000 đồng.
Vụ thứ hai: khoảng 08 giờ 30 phút ngày 27/7/2025, phía trước Cửa hàng quần áo “Xí X” ở Số B, Đường T, khu phố B, phường S, tỉnh Vĩnh Long, Nguyễn Hoàng T có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Bùi Minh P 01 xe mô tô nhãn hiệu: Yamaha, loại xe: Exciter, Biển số: 71B2 - xxxxxxxx, trị giá 12.500.000 đồng. Sau khi lấy trộm xe mô tô Biển số: 71B2 – 90xxxxxx, T dẫn xe rời khỏi hiện trường được một đoạn khoảng 01 mét thì bị anh P phát hiện, bắt giữ giao cho Công an phường S.
Tổng giá trị tài sản T chiếm đoạt của bị hại Đào Thị Tường L và Bùi Minh T2 là 27.166.000 đồng.
[3]Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận biết rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi bất chính, bị cáo đã một mình 02 lần cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị hại, giá trị tài sản chiếm đoạt 27.166.000 đồng. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân Khu vực 5- Vĩnh Long truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng luật định.
[4]Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, lợi dụng chủ sở hữu thiếu cảnh giác trong việc quản lý tài sản đã thực hiện hành vi phạm tội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Khi bị cáo thực hiện tội phạm đã gây ra tâm lý lo sợ cho quần chúng nhân dân trong lao động, trong sinh hoạt hàng ngày.
[5]Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo đã 02 lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích (chưa bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm”) và đã nhiều lần bị xử phạt hành chính. Về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự bị cáo phải chịu tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm” theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “Phạm tội nhưng chưa thiệt hại” (đối với hành vi trộm cắp tài sản của bị hại P), “Người phạm tội thành khẩn khai báo”, “Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo” theo quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.
[6]Về hình phạt bổ sung: do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7]Về xử lý vật chứng:
Ghi nhận: Ngày 28/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V đã ra Quyết định xử lý vật chứng số B1531/QĐ-VPCQCSĐT trả cho bị hại Đào Thị Tường L xe mô tô nhãn hiệu: Honda, loại xe: Future Neo, Biển số: 71S8 - 1xxxxx; trả cho anh Bùi Minh T2 xe mô tô nhãn hiệu: Yamaha, loại xe: Exciter, Biển số: 71B2 - xxxxxxxx, anh P, anh T2 không có yêu cầu gì khác.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo khoác bằng vải, mặt ngoài màu đen có sọc trắng, loại áo dài tay, màu trắng; mặt trong màu đen; 01 (một) áo khoác màu xám trắng, loại áo dài tay, có nón đội, có thêu chữ Champion; 01 (một) nón lưỡi trai phía trước màu xám đen, có thêu hình đầu hổ, phía sau có lưới màu đen; 01 (một) quần Jean màu xanh dương là trang phục Nguyễn Hoàng T mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản do bị cáo không yêu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng.
[8]Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp: ghi nhận bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Minh H1 không yêu cầu Nguyễn Hoàng T bồi thường số tiền 3.100.000 đồng chị dùng để mua xe mô tô Biển số: 71S8 - 1xxxxx sau đó bị thu hồi.
[9]Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, hình phạt, xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp là phù hợp nên được chấp nhận.
[10]Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo bị kết án nên phải chịu theo quy định của Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
1.Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/8/2025.
2.Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo khoác bằng vải, mặt ngoài màu đen có sọc trắng, loại áo dài tay, màu trắng; mặt trong màu đen; 01 (một) áo khoác màu xám trắng, loại áo dài tay, có nón đội, có thêu chữ Champion; 01 (một) nón lưỡi trai phía trước màu xám đen, có thêu hình đầu hổ, phía sau có lưới màu đen; 01 (một) quần Jean màu xanh dương.
(Vật chứng hiện Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 5-Vĩnh Long quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/9/2025).
3.Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
4.Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Bản án về tội trộm cắp tài sản số 56/2025/HS-ST ngày 11/09/2025
| Số hiệu: | 56/2025/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Vĩnh Long - Vĩnh Long |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 11/09/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về