TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
BẢN ÁN 55/2025/HS-ST NGÀY 29/09/2025 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Ngày 29 tháng 9 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng, (Cơ sở 2) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Trung H, sinh ngày 06/05/1992, tại: Thành phố Đà Nẵng.
Nơi cư trú: K20/15 Nguyễn Thế L, Tổ 33B, phường An H, thành phố Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H và bà Đoàn Thị Phương Th; gia đình có 04 người con, bị cáo là con thứ hai, bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 20/11/2009 cố ý gây thương tích bị TAND quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xử phạt tù có thời hạn 15 tháng, tại Bản án số 44/HSST ngày 03/08/2010.
Ngày 31/10/2012 sử dụng trái phép chất ma tuý bị Công an quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đưa đối tượng vào cơ sở chữa bệnh thời gian 03 tháng.
Ngày 06/06/2013 sử dụng trái phép chất ma tuý bị Công an quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đưa đối tượng vào cơ sở chữa bệnh thời gian 06 tháng.
Ngày 27/10/2016 trộm cắp tài sản bị TAND quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xử phạt tù có thời hạn 12 tháng theo Bản án số 21/HSST ngày 23/04/2017.
Ngày 27/10/2016 sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà đưa đôi tượng vào cơ sở chữa bệnh.
Ngày 21/01/2021 sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an xã Hòa Phước, huyện Hòa Vang đưa đôi tượng vào cơ sở chữa bệnh.
Ngày 05/4/2024 UBND phường An Hải Bắc ban hành Quyết định số 44/QĐ-UBND ngày 05/4/2024 của về việc quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú đối với Nguyễn Trung H, thời hạn từ ngày 05/4/2024 đến ngày 05/4/2025. Ngày 05/4/2025 UBND phường An Hải Bắc ban hành Giấy chứng nhận số 106/GXN- CNTN ngày 05/4/2025 về việc Chấp hành xong Quyết định quản lý sau cai nghiện ma tuy tại nơi cư trú đối với ông Nguyễn Trung H.
Ngày 21/5/2025 UBND phường An Hải Bắc ban hành Quyết định số 82/QĐ-UBND ngày 21/5/2025 Áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý đối với ông Nguyễn Trung H thời hạn 01 (một) năm, kể từ ngày 21/5/2025.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/7/2025 đến nay; có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1996; nơi cư trú: Số K112/H49/01 Trần Cao V, phường Thanh K, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lê Văn L, sinh năm 2000; nơi cư trú: Số 16 Nại Hiên Đ 14, phường Sơn T, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt 2. Bà Đoàn Thị Phương Th, sinh năm 1969; nơi cư trú: Số K20/15 Nguyễn Thế L, phường An H, thành phố Đà Nẵng; có mặt.
3. Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1990; nơi cư trú: Số K20/15 Nguyễn Thế L, phường An H, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.
Người tham gia tố tụng khác: Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị H – Luật sư thuộc Công ty Luật Tiếng Dân, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng; địa chỉ: Số 682/01 Hoàng D, thành phố Đà Nẵng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 08/5/2025, bị cáo H đã điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha màu đen gắn biển kiểm soát 43C1-xxxxx di chuyển trong kiệt 112 Trần Cao V thì nghe tiếng chim hót, lúc này bị cáo H nảy sinh ý định trộm cắp chim về để bán lấy tiền tiêu xài. Khi đến số nhà số K112/H49/01 Trần Cao V, thành phố Đà Nẵng, phát hiện không có ai qua lại, bị cáo H đã lén lút vào nhà trộm 01 lồng chim và 01 con chim chào mào, sau đó bị cáo H nhanh chóng quay ra lấy xe máy tẩu thoát.
Khoảng 15 giờ cùng ngày, bị cáo H điều khiển xe máy ngang qua cửa hàng mua bán xe máy Minh D ở địa chỉ 136 Vân Đ, phường Nại Hiên Đ, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, thấy tại đây có treo các lồng chim nên bị cáo H vào hỏi 01 nam thanh niên tên L (HKTT: Tổ 83, phường Sơn T, TP Đà Nẵng) là nhân viên của cửa hàng về việc mua bán chim, bị cáo H hỏi L “Có mua chim không?”, L hỏi bị cáo H “Chim này nguồn gốc ở đâu?”. Lúc này bị cáo H mới nói “Chim này của anh ruột cho, hiện tại không có nhu cầu nuôi nữa” nên muốn bán với giá 1.000.000đ (một triệu đồng) và L đồng ý. Sau đó, L đưa tiền cho bị cáo H còn bị cáo H đưa chim cùng lồng cho L. Bán xong thì bị cáo H cầm tiền đi ăn uống và tiêu xài hết rồi mới về nhà để nghỉ ngơi. Qua làm việc bị cáo Nguyễn Trung H khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 05/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận Thanh Khê (cũ) xác định con chim chào mào có giá trị 9.500.000đ (chín triệu năm trăm nghìn đồng), chiếc lồng chim có giá trị 5.000.000đ (năm triệu đồng). Tổng giá trị tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt là 14.500.000đ (mười bốn triệu năm trăm ngàn đồng).
Ngày 18/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 247 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173; Quyết định khởi tố bị can số 574, Lệnh bắt bị can để tạm giam số 1459 đối với Nguyễn Trung H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Vào lúc 14 giờ 00 ngày 22/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng thi hành lệnh bắt bị can để tạm giam số 1459/LB-VPCQCSĐT ngày 18/7/2025 đối với Nguyễn Trung H tại Công an phường Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Qua xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với Nguyễn Trung H cho kết quả dương tính với chất ma túy thuộc nhóm Methamphetamine.
Qua làm việc, bị cáo Nguyễn Trung H khai nhận: Khoảng 15 giờ 00 ngày 18/7/2025 khi bị cáo H đang đi trên đường Trần Hưng Đạo (đoạn gần cầu Sông Hàn), thành phố Đà Nẵng (không nhớ rõ vị trí) thì bị cáo H gặp bạn tên là Hoàng (không rõ lai lịch cụ thể) quen biết ngoài xã hội, tại đây Hoàng hỏi thăm sức khoẻ của bị cáo H rồi hỏi bị cáo H “mi có còn sử dụng ma tuý không” thì bị cáo H trả lời “còn” sau đó Hoàng cho bị cáo H một ít ma tuý đá và dụng cụ sử dụng ma tuý để sử dụng.
Sau đó, bị cáo H đem số ma tuý trên về nhà tại địa chỉ K20/15 đường Nguyễn Thế Lộc, phường An Hải, thành phố Đà Nẵng đi vào phòng đóng cửa lại. Bị cáo H lấy chai nước suối rồi cắm ống hút vào nỏ và nắp chai nước rồi bỏ số ma tuý trên vào nỏ, dùng lửa đốt phía dưới nỏ; khi thấy có hơi khói từ nỏ thoát ra thì bị cáo H dùng miệng ngậm vào ống hút và hút vào. Bị cáo H sử dụng hết số ma tuý trên một mình rồi đem vứt các dụng cụ dùng để sử dụng ma tuý.
Qua biên bản xác minh tại Công an phường An Hải, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Trung H hiện đang nằm trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy và trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại kết luận giám định số 617/KL-KTHS ngày 01/8/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Đà Nẵng xác định mẫu nước tiểu của bị cáo Nguyễn Trung H niêm phong ký hiệu CN gửi giám định có tìm thấy chất ma tuý loại Methamphetamine.
Tang vật thu giữ:
01 (một) xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen, biển kiểm soát 43C1- xxxxx của bị cáo Nguyễn Trung H - là phương tiện bị cáo H sử dụng đi lại và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản (nêu trên). Ngày 12/5/2025, bị cáo Nguyễn Trung H giao nộp cơ quan Công an xe mô tô trên.
01 (một) chim chào mào trống đặc điểm 02 bên má đỏ, chân đen, có lông màu trắng đen; 01 (một) lồng chim chào mào kích thước (RxC): 0,52 x 0.37 (m); chất liệu làm thủ công bằng tre, có để bằng vân gỗ, tay cầm và khung chỉnh bằng gỗ chạm khắc đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Nguyễn Đức H, sinh năm 1996; nơi cư trú: Tổ 35TT, phường Xuân Hà, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng).
01 (một) đĩa CD lưu trữ video, hình ảnh ghi nhận hình ảnh liên quan đối tượng Nguyễn Trung H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 08/5/2025 (lưu tại hồ sơ).
01 (một) que thử ma tuý vào ngày 22/7/2025 của bị cáo Nguyễn Trung H (lưu tại hồ sơ).
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 14/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng đã truy tố bị cáo: Nguyễn Trung H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và tội: “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trung H phạm về tội “Trộm cắp tài sản” và phạm về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Áp dụng:
Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự Khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trung H mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tộm cắp tài sản” và mức từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội đối với bị cáo Nguyễn Trung H. Buộc bị cáo Nguyễn Trung H phải chấp hành mức từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 22/7/2025.
Ngoài ra trong vụ án còn có:
Đối với người đàn ông Hoàng đã cho bị cáo Nguyễn Trung H ma tuý và bộ dụng cụ để sử dụng ma tuý, bị cáo H chỉ biết Hoàng ngoài xã hội nhưng không biết rõ nhân thân lai lịch của Hoàng ở đâu nên Cơ quan cảnh sát điều tra tách ra và tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý sau là có căn cứ nên không xem xét.
Đối với việc bị cáo Nguyễn Trung H sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà địa chỉ K20/15 đường Nguyễn Thế Lộc, phường An Hải, thành phố Đà Nẵng, bị cáo chỉ sử dụng ma túy một mình tại phòng riêng, không ai biết bị cáo H sử dụng trái phép chất ma tuý cho đến khi cơ quan Công an phát hiện. Do đó không đề cập đến xử lý.
Về xử lý vật chứng:
01 (một) xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen biển kiểm soát 43C1- xxxxx của bị cáo Nguyễn Trung H - là phương tiện bị cáo H sử dụng đi lại và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung công nhà nước.
01 (một) chim chào mào trống đặc điểm 02 bên má đỏ, chân đen, có lông màu trắng đen; 01 (một) lồng chim chào mào kích thước (RxC): 0,52 x 0.37 (m); chất liệu làm thủ công bằng tre, có để bằng vân gỗ, tay cầm và khung chỉnh bằng gỗ chạm khắc đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Nguyễn Đức H, sinh năm 1996; nơi cư trú: Tổ 35TT, phường Xuân Hà, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng) là phù hợp nhên không xem xét.
01 (một) đĩa CD lưu trữ video, hình ảnh ghi nhận hình ảnh liên quan đối tượng Nguyễn Trung H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 08/5/2025 là vật chứng của vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án, hiện đang lưu tại hồ sơ vụ án.
01 (một) que thử ma tuý vào ngày 22/7/2025 của bị cáo Nguyễn Trung H là vật chứng của vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án, hiện đang lưu tại hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Nguyễn Đức H đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì. Đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Trung H nên không xem xét.
Đối với ông Lê Văn L đã tự nguyện giao nộp chiếc lồng chim và con chim chào mào cho Cơ quan công an. Gia đình của bị cáo đã bồi thường cho ông L số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) là tiền ông L dùng để mua chiếc lồng chim và con chim chào mào từ bị cáo, ông L không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Tại phiên tòa, Luật sư Nguyễn Thị Hường người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trung H sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo H. Luật sư thống nhất tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, cũng như áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, nhưng cho rằng hành vi trộm cắp của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thu lợi bất chính không đáng kể, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, đã tích cực phối hợp với cơ quan điều tra trong quá trình điều tra, xử lý các vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo ở mức thấp hơn đề nghị của Viện kiểm sát.
Tại phiên tòa, quá trình xét hỏi bị cáo Nguyễn Trung H thừa nhận hành vi phạm tội như trong bản cáo trạng đã truy tố bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Nguyễn Trung H biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên rất hối hận. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo ở mức án thấp nhất để có cơ hội sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự số 99/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội và điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc Hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân. Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng thụ lý giải quyết vụ án là đúng về thẩm quyền.
[1.2] Tại phiên tòa, người bị hại ông Nguyễn Đức H và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn L, ông Đoàn Thanh Tùng đã được Tòa án triệu tập, nhưng vắng mặt, trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của những người vắng mặt. Do vậy, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt của những người trên.
[1.3] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đảm bảo theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trung H khai nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Vào 13 giờ 30 phút ngày 08/5/2025, bị cáo H điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha màu đen gắn biển kiểm soát 43C1-xxxxx đến số nhà K112/H49/01 Trần Cao Vân, thành phố Đà Nẵng để lén lút trộm 01 lồng chim và 01 con chim chào mào với tổng giá trị là 14.500.000đ (mười bốn triệu năm trăm ngàn đồng) và đem bán với giá 1.000.000đ (một triệu đồng) để tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo Nguyễn Trung H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Khoảng 15 giờ 00 ngày 18/7/2025 tại địa chỉ K20/15 đường Nguyễn Thế Lộc, thành phố Đà Nẵng, bị cáo Nguyễn Trung H đã có hành vi sử dụng ma tuý, loại Methamphetamine một mình. Bị cáo H đang nằm trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy và trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma tuý 2021 nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý. Hành vi của bị cáo Nguyễn Trung H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Trung H bị Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tội: “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự..
Như Cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 14/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2.2] Xét tuổi và năng lực hành vi của bị cáo Nguyễn Trung H tại thời điểm phạm tội thì thấy:
Tại thời điểm phạm tội, bị cáo Nguyễn Trung H là những người đã trưởng thành, có sức khỏe nên có đầy đủ năng lực hành vi và nhận thức được việc làm sai trái của bản thân, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi do mình gây ra.
[2.2.1] Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” của bị cáo Nguyễn Trung H thì thấy:
Bị cáo là người đã trưởng thành có sức khỏe nhưng với bản tính liều lĩnh, lười lao động, muốn có tiền tiêu xài cá nhân một cách nhanh chóng không bằng thành quả lao động của mình nên khi thấy người nào để sơ hở tài sản là trộm cắp. Ngày 08/5/2025, bị cáo H điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha màu đen gắn biển kiểm soát 43C1-xxxxx, đứng tên bị cáo H đến số nhà K112/H49/01 Trần Cao Vân, thành phố Đà Nẵng và lén lút trộm 01 lồng chim và 01 con chim chào mào với tổng giá trị là 14.500.000đ (mười bốn triệu năm trăm ngàn đồng) đem bán với giá 1.000.000đ (một triệu đồng) để tiêu xài cá nhân.
Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo Nguyễn Trung H thể hiện sự liều lĩnh, xem thường pháp luật và đã xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất lòng tin đối với mọi người xung quanh, làm mất an ninh trật tự tại địa phương nên cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[2.2.2] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” của bị cáo Nguyễn Trung H thì thấy:
Bị cáo H là người bắt đầu sử dụng ma túy trái phép từ năm 2012 đến nay và đã nhiều lần bị xử phạt, nhiều lần xin đăng ký tự nguyện, cũng như bị đưa đi cai nghiện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc nên biết rõ tác hại của việc sử dụng ma túy trái phép với bản thân cũng như làm ảnh hưởng đến công đồng. Hiện bị cáo đang nằm trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy và trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma tuý 2021. Nhưng khoảng 15 giờ 00 ngày 18/7/2025 tại địa chỉ K20/15 đường Nguyễn Thế Lộc, thành phố Đà Nẵng, bị cáo H tiếp tục có hành vi sử dụng ma một mình, loại ma túy bị cáo sử dụng là Methamphetamine.
Hành vi của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tệ nạn xã hội. Hành vi của bị cáo thuộc tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2025. Do tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo H một mức án nghiêm khắc, đúng với tính chất hành vi phạm tội, cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[2.3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ của bị cáo H thì thấy: Mặc dù hiện bị cáo H không có tiền án, tiền sự nhưng là người có nhân thân xấu, từ năm 2009 đã có hành vi Cố ý gây thương tích bị TAND quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xử phạt tù có thời hạn 15 tháng, tại bản án số 44/HSST ngày 03/08/2010; ngày 31/10/2012 sử dụng trái phép chất ma tuý bị Công an quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đưa vào cơ sở chữa bệnh thời gian 03 tháng; ngày 06/06/2013 sử dụng trái phép chất ma tuý bị Công an quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đưa vào cơ sở chữa bệnh thời gian 06 tháng; ngày 27/10/2016 Trộm cắp tài sản bị TAND quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xử phạt tù 12 tháng theo Bản án số 21/HSST ngày 23/04/2017; ngày 27/10/2016 sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà đưa vào cơ sở chữa bệnh; ngày 21/01/2021 sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an xã Hòa Phước, huyện Hòa Vang đưa vào cơ sở chữa bệnh; ngày 05/4/2024 UBND phường An Hải Bắc ban hành Quyết định số 44/QĐ-UBND ngày 05/4/2024 về việc quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú đối, thời hạn từ ngày 05/4/2024 đến ngày 05/4/2025; ngày 21/5/2025 UBND phường An Hải Bắc ban hành Quyết định số 82/QĐ-UBND ngày 21/5/2025 về việc áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý đối với ông Nguyễn Trung H thời hạn 01 (một) năm, kể từ ngày 21/5/2025. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tôi của mình, bị cáo thuộc diện khó khăn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.
Riêng đối với tội trộm cắp tài sản bị cáo đã tác động gia đình bồi thường hết tiền cho người liên quan, người bị hại đã nhận lại tài sản và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự của tội trộm cắp tài sản mà Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo khi lượng hình. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Ngoài ra, trong vụ án này còn có:
Đối với người đàn ông Hoàng đã cho bị cáo Nguyễn Trung H ma tuý và bộ dụng cụ để sử dụng ma tuý, bị cáo H chỉ biết Hoàng ngoài xã hội nhưng không biết rõ nhân thân lai lịch của Hoàng ở đâu nên Cơ quan cảnh sát điều tra tách ra và tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý sau là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với việc bị cáo Nguyễn Trung H sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà địa chỉ K20/15 đường Nguyễn Thế Lộc, phường An Hải, thành phố Đà Nẵng (nhà bị cáo), bị cáo chỉ sử dụng ma túy một mình tại phòng riêng, không ai biết bị cáo H sử dụng trái phép chất ma tuý cho đến khi cơ quan Công an phát hiện nên Hội đồng xét xử không đề cập đến xử lý.
[4] Về xử lý vật chứng:
01 (một) xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen biển kiểm soát 43C1- xxxxx của bị cáo Nguyễn Trung H - là phương tiện bị cáo H sử dụng vào việc thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
01 (một) chim chào mào trống, đặc điểm 02 bên má đỏ, chân đen, có lông màu trắng đen; 01 (một) lồng chim chào mào kích thước (RxC): 0,52 x 0.37 (m); chất liệu làm thủ công bằng tre, có để bằng vân gỗ, tay cầm và khung chính bằng gỗ chạm khắc. Sau khi thu giữ để phục vụ điều tra, nay đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Nguyễn Đức H là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
01 (một) đĩa CD lưu trữ video, hình ảnh ghi nhận hình ảnh liên quan việc bị cáo Nguyễn Trung H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 08/5/2025. Đây là vật chứng của vụ án nên Hội đồng xét xử tuyên lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án, hiện đang lưu tại hồ sơ vụ án.
01 (một) que thử ma tuý vào ngày 22/7/2025 của bị cáo Nguyễn Trung H. Đây là vật chứng của vụ án nên Hội đồng xét xử tuyên lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án, hiện đang lưu tại hồ sơ vụ án.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại ông Nguyễn Đức H đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì. Đồng thời, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Trung H nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với ông Lê Văn L đã tự nguyện giao nộp chiếc lồng chim và con chim chào mào cho Cơ quan công an. Gia đình của bị cáo đã bồi thường cho ông L số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) là tiền ông L dùng để mua chiếc lồng chim và con chim chào mào từ bị cáo, ông L không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên tòa, Luật sư Nguyễn Thị Hường người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trung H sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo H. Luật sư thống nhất tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, cũng như áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, nhưng cho rằng hành vi trộm cắp của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thu lợi bất chính không đáng kể, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, đã tích cực phối hợp với cơ quan điều tra trong quá trình điều tra, xử lý các vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo ở mức thấp hơn đề nghị của Viện kiểm sát.
Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của bị cáo về tội trộm cắp tài sản và sử dụng trái phép chất ma túy, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá đúng, đầy đủ các yếu tố về hành vi, động cơ, mục đích, tính chất mức độ phạm tội, cũng như đánh giá và áp dụng hết các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, ý kiến của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Do đó, Luật sự đề nghị áp dụng mức án nhẹ hơn đề nghị của Viện kiểm sát không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Hội đồng xét xử, xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng tại phiên tòa về các điều luật áp dụng, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng mức hình phạt đối với bị cáo H là có cơ sở nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình.
[8] Về án phí hình sự: Bị cáo H phải chịu 200.000 đồng theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự về tội“Trộm cắp tài sản” và khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025 về tội“Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
[2] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội“Trộm cắp tài sản” và phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
[3] Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trung H 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ vào Điều 55 của Bộ luật Hình sự 2015. Tổng hợp hình phạt chung của 02 (hai) tội, buộc bị cáo Nguyễn Trung H phải chấp hành là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 22/7/2025.
[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên lưu trữ kèm thèo hồ sơ vụ án: 01 (một) đĩa CD lưu trữ video, hình ảnh ghi nhận hình ảnh liên quan việc bị cáo Nguyễn Trung H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 08/5/2025 và 01 (một) que thử ma tuý vào ngày 22/7/2025 của bị cáo Nguyễn Trung H. (Hiện đang lưu tại hồ sơ vụ án).
Tuyên tịch thu sung công nhà nước: 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen biển kiểm soát 43C1-xxxxx của bị cáo Nguyễn Trung H. (Vật chứng này hiện đang nằm tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Đà Nẵng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/9/2025).
[5] Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Trung H phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).
[6] Về kháng cáo:
Báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Thị Phương Thảo có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 29/9/2025.
Riêng người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan còn lại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về tội trộm cắp tài sản số 55/2025/HS-ST ngày 29/09/2025
| Số hiệu: | 55/2025/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Quận Sơn Trà - Đà Nẵng |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 29/09/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về