TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
BẢN ÁN 53/2022/HS-ST NGÀY 25/10/2022 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Ngày 25 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2021/HSST ngày 10 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án xét xử số: 52/2022/QĐXXST. HS ngày 12 tháng 10 năm 2022 đối với:
Bị cáo: Phạm Văn D, sinh năm: 1993, giới tính: Nam; nơi sinh, nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; đảng phái: Không; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; họ tên cha: Phạm Văn D, sinh năm 1968, họ tên mẹ: Trần Thị T, sinh năm 1972; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; họ tên vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1995; con: Có 4 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2020; hiện gia đình bị cáo đều trú tại thôn A, xã B, huyện C, Nam Định;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Bị hại: Anh Nguyễn Thế N, sinh năm 1972, trú tại thôn Đ, xã E, huyện C, tỉnh Nam Định; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 30/6/2022, Phạm Văn D khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α màu đỏ, biển số 18F8-xxxx đi từ nhà mang theo 01 cưa tay, 01 kéo cắt cành cây đến khu vực xã Điền Xá, huyện Nam Trực với mục đích trộm cắp cây cảnh. Khi đi qua Ủy ban nhân dân xã Điền Xá khoảng 300 mét, D rẽ trái tới vườn nhà anh Nguyễn Thế N tại thôn Lã Điền, xã Điền Xá, huyện Nam Trực; đứng ở ngoài quan sát không thấy có người qua lại, trong vườn nhà anh N có một số gốc cây sanh; lúc này, khoảng 11 giờ cùng ngày, D để xe mô tô cách vườn nhà anh N khoảng 50 mét rồi mang theo cưa và kéo đi qua vườn nhà anh Đoàn Hữu L thì thấy trong vườn nhà anh L có 1 chép đào đất, D lấy chép mang theo rồi trèo tường lưới B40 sang vườn nhà anh N; quan sát trong vườn nhà anh N có nhiều cây sanh, D chọn được 04 cây sanh có chu vi gốc gần bằng nhau khoảng từ 70-85 cm, cao khoảng 30-40 cm. Sau đó, D lần lượt dùng kéo và cưa cắt tỉa cành và dùng chép đào gốc của 02 cây sanh dáng lão và 02 cây sanh dáng trực siêu lên khỏi mặt đất, D bỏ kéo và cưa vào túi quần rồi lần lượt bê 02 cây sanh dáng lão ném qua tường lưới B40 sang vườn nhà anh L rồi quay lại bê 02 cây sanh dáng trực siêu còn lại. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, anh L ra vườn nhà mình thấy có 02 cây sanh không phải cây của vườn nhà mình mà giống với cây vườn nhà anh N nên đã gọi điện thông báo cho anh N. Anh N xuống vườn kiểm tra thì phát hiện 04 cây sanh bị đào bật gốc trong đó có 02 cây sanh bị đào lên và đặt ngay cạnh hố, còn 02 cây sanh đặt ngay cạnh tường rào bên vườn nhà anh L. Ngay sau đó, anh N phát hiện ra D đang đứng ở cạnh vị trí vườn nhà mình. Nghi ngờ D có hành vi trộm cắp cây sanh nhà mình nên anh N đã giữ D lại và trình báo Công an xã Điền Xá giải quyết. Công an xã Điền Xá đã lập biên bản vụ việc và chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nam Trực xử lý.
Ngày 01/7/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nam Trực đã tiến hành thu giữ vật chứng gồm:
- 01 cây sanh dáng lão, cao 38 cm, chu vi gốc 80 cm;
- 01 cây sanh dáng lão, cao 40 cm, chu vi gốc 78 cm;
- 01 cây sanh dáng trực siêu, cao 30 cm, chu vi gốc 82 cm;
- 01 cây sanh dáng trực siêu, cao 43 cm, chu vi gốc 85 cm;
- 01 chép đào đất bằng kim loại dài 115 cm, phần cán dài 88 cm, đường kính cán 3 cm.
- 01 kéo cắt dài 18,5 cm, phần tay cầm màu trắng bằng nhựa, phần lưỡi kéo dài 8 cm;
- 01 cưa tay dài 53 cm có cán cưa bằng nhựa màu đỏ, phần lưỡi cưa bằng kim loại kích thước (34x4,5) cm;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α màu đỏ biển số 18F8-xxxx; 01 đăng ký xe mang tên Lâm Duy T (bản photo);
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 19/KLĐG ngày 10/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Nam Trực kết luận:
- 01 cây sanh dáng lão, cao 38 cm, chu vi gốc 80 cm có giá 12.000.000 đồng;
- 01 cây sanh dáng lão, cao 40 cm, chu vi gốc 78 cm có giá 8.000.000 đồng;
- 01 cây sanh dáng trực siêu, cao 30 cm, chu vi gốc 82 cm có giá 8.000.000 đồng;
- 01 cây sanh dáng trực siêu, cao 43 cm, chu vi gốc 85 cm có giá 10.000.000 đồng;
Tổng giá trị là 38.000.000 đồng.
Cáo trạng số 55/CT-VKS ngày 10 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Phạm Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 03 đến 04 năm. Hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn nên không phạt tiền bổ sung.
- Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và tài sản đã thu giữ: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nam Trực đã trả lại 04 cây sanh cho anh Nguyễn Thế N và trả lại 01 chép đào đất cho anh Đoàn Hữu L. Anh N, anh L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường về dân sự, nên không đặt ra xem xét;
Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; tịch thu tiêu hủy những công cụ Phạm Văn D dùng để trộm cắp tài sản gồm: 01 kéo và 01 cưa tay.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 236 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về án lệ phí Tòa án bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận, trong lời nói sau cùng đã nhận thức rõ tội lỗi của mình, ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Trực, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét về hành vi của bị cáo Phạm Văn D thấy rằng: Lời khai nhận tội của bị cáo phù với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở những chứng cứ này có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 30/6/2022, Phạm Văn D đã lén lút vào vườn nhà anh Nguyễn Thế N tại thôn Đ, xã F, huyện C, tỉnh Nam Định để trộm cắp 01 cây sanh dáng lão, cao 38 cm, chu vi gốc 80 cm; 01 cây sanh dáng lão, cao 40 cm, chu vi gốc 78 cm; 01 cây sanh dáng trực siêu, cao 30 cm, chu vi gốc 82 cm và 01 cây sanh dáng trực siêu, cao 43 cm, chu vi gốc 85 cm; tổng giá trị tài sản D chiếm đoạt là 38.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, nhận thức rõ hành vi bị cáo thực hiện là sai trái, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.
[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan Điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khẩn khai báo, lần phạm tội này là lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn, bị hại xin giam nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51Bộ luật hình sự;
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[5] Về hình phạt: Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nhân thân tốt nên không cần cách ly bị cáo khỏi xã hội mà xử phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhưng cho hưởng án treo; hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn nên không phạt tiền bổ sung như quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Thế N đã nhận lại 04 cây sanh, anh Đoàn Hữu L đã nhận lai 01 chép đào đất; anh N, anh L không yêu cầu bồi thường về dân sự, nên không đặt ra xem xét.
[7] Về tài sản khác được thu giữ trong vụ án: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α màu đỏ, biển số 18F8-xxxx, xe đăng ký mang tên Lâm Duy T, sinh năm 1983, trú tại thôn Lác Môn 3, xã Trực Hùng, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định; Anh T bán cho anh Phạm VănN, sinh năm 1974, trú tại tổ 12, thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực; ông Phạm Văn D mua lại của anh N. Kết quả tra cứu xe không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng; ông D không biết D mượn chiếc xe trên làm phương tiện để đi trộm cắp tài sản; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nam Trực đã trả lại chiếc xe trên cho ông Phạm Văn D là phù hợp pháp luật.
Đối với 01 kéo và 01 cưa tay là những công cụ của Phạm Văn D, D dùng để trộm cắp tài sản nên được tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
[8] Về án phí: Bị cáo bị tuyên có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điều 65 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố Phạm Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Xử phạt Phạm Văn D 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao Phạm Văn D cho Ủy ban nhân dân xã Nghĩa An, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; tịch thu tiêu hủy những công cụ Phạm Văn D dùng để trộm cắp tài sản gồm: 01 kéo và 01 cưa tay (Chi tiết vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Nam Trực và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Trực).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo Phạm Văn D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Văn D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại Nguyễn Thế N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án về tội trộm cắp tài sản số 53/2022/HS-ST
| Số hiệu: | 53/2022/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Nam Trực - Nam Định |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 25/10/2022 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về