TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN SỐ 52/2025/HS-ST NGÀY 10/09/2025 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Ngày 10 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 118/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Trần Bảo G, sinh năm: 1991; tại tỉnh Bình Dương; CCCD: 074091008xxx. Nơi thường trú: Số A đường D, Khu phố D, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố H, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông (không rõ lai lịch) và bà Trần Thị B; bị cáo có 01 con sinh năm 2014; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 12 tháng 8 năm 2023, bị Công an phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh) ra Quyết định số 68/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, số tiền phạt 1.500.000 đồng, bị cáo đã đóng phạt ngày 03/10/2023; nhân thân: Ngày 25 tháng 10 năm 2024, bị Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương (nay là Toà án nhân dân khu vực 18- Thành phố Hồ Chí Minh) xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 263/2024/HS-ST. Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam T2; có mặt.
2. Đặng Hữu L, sinh năm: 1997; tại tỉnh Bình Dương; CCCD: 074097006xx. Nơi thường trú: Số A đường D, Khu phố D, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố H, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn L1 và bà Thượng Thị T (đã chết); bị cáo có 01 con sinh năm 2017; tiền án: Ngày 12 tháng 01 năm 2021, bị Toà án nhân dân thị xã Bến Cát (nay là Toà án nhân dân khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh) xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 03/2021/HS-ST (bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/8/2022 và nộp án phí ngày 15/3/2021, bị cáo chưa thi hành phần bồi thường về dân sự); tiền sự: Ngày 18 tháng 01 năm 2024, bị Công an phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh) ra Quyết định số 25/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, số tiền phạt 1.500.000 đồng, bị cáo đã đóng phạt ngày 14/3/2024; nhân thân: Ngày 25 tháng 10 năm 2024, bị Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương (nay là Toà án nhân dân khu vực 18- Thành phố Hồ Chí Minh) xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và 07 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành chung của hai tội là 01 năm 11 tháng tù theo Bản án số 263/2024/HS-ST. Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam T2; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Bảo G và Đặng Hữu L đều là đối tượng nghiện ma túy đá (ma túy loại Methamphetamine), không có nghề nghiệp và là hàng xóm cạnh nhà nhau tại khu phố D, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh).
Sáng sớm ngày 22/7/2024, Đặng Hữu L bắt trộm 05 con chó của chị Nguyễn Thị Hoàng Y tại khu vực khu phố B, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Sau đó, L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số 61L2-xxxx của L chở G đem bán 05 con chó cho ông Nguyễn Hữu T1 tại khu vực ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) được số tiền 2.800.000 đồng rồi L đưa cho G giữ số tiền này. Trên đường về nhà, G rủ L mua ma túy về sử dụng thì L đồng ý và cả hai thống nhất lấy 500.000 đồng mua ma túy về sử dụng; G đưa cho L số tiền 1.400.000 đồng (bao gồm 500.000 mua ma túy). Sau đó, L chở G về nhà của G, L một mình điều khiển xe mô tô biển số 61L2-xxxx đi đến khu vực huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy đá (Methamphetamine) từ một người nam (hiện chưa xác định được họ tên và địa chỉ cư trú) với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được 01 gói ma túy đá, L điều khiển xe mô tô biển số 61L2-xxxx đem ma túy về nhà của L tại địa chỉ số A, đường Đ, khu phố D, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh) cất giấu trong phòng ngủ. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, G qua nhà L thì được L chỉ vào phòng ngủ để lấy gói ma túy đá và bộ D sử dụng ma túy do L mua về trước đó để sử dụng. Cả hai cùng nhau ra phía sau nhà của L thay phiên nhau sử dụng khoảng 20 phút thì hết số ma túy trên, G đem bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy vào phòng ngủ của L để lại vị trí cũ rồi G đi về nhà. Đến chiều cùng ngày 22/7/2024, G và L bị Công an phường H mời về trụ sở làm việc về hành vi trộm cắp tài sản của chị Y. Tại đây, G và L khai nhận hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của L như nội dung đã nêu trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã tiến hành xác định hiện trường vụ việc và tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của G và L cùng ngày 22/7/2024, kết quả cả hai đều dương tính với ma túy (loại Methamphetamine). Ngày 01/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B chuyển nguồn tin về tội phạm đối với hành vi có dấu hiệu của tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự xảy ra ngày 22/7/2024 tại nhà của L đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền cùng số vật chứng thu giữ tại nhà của L, gồm: Một ống thuỷ tinh hình trụ dài khoảng 12 cm có một đầu uống cong; một ống hút nhựa dài 16cm và một lọ thuỷ tinh hình trụ cao khoảng 8cm có phần thân rộng nhất đường kính 4cm.
Đối với bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá trên, ngày 30/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vưc 15 – Thành phố Hồ Chí Minh) ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một để đề nghị Tòa án tịch thu tiêu hủy.
Đối với hành vi Trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, xảy ra ngày 22/7/2024 tại khu phố B, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương do Trần Bảo G và Đặng Hữu L thực hiện. Ngày 25/10/2024, G và L đã bị Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương (nay là Toà án nhân dân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh) xét xử theo quy định của pháp luật. (Bút lục số 77).
Cáo trạng số 116/CT-VKSTDM ngày 13/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh) truy tố bị cáo Trần Bảo G và Đặng Hữu L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo, đồng thời đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Bảo G mức hình phạt từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.
- Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Hữu L mức hình phạt từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm tù.
Ngày 25 tháng 10 năm 2024, Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương (nay là Toà án nhân dân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh) xử phạt bị cáo Trần Bảo G 01 năm 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; xử phạt bị cáo Đặng Hữu L 01 năm 04 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và 07 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, tổng hợp hình phạt bị cáo Đặng Hữu L phải chấp hành chung của hai tội là 01 năm 11 tháng tù, theo Bản án số 263/2024/HS-ST. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của Bản án số 263/2024/HS-ST, ngày 25/10/2024 đối với bị cáo Trần Bảo G, bị cáo Đặng Hữu L.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm: Một ống thuỷ tinh hình trụ dài khoảng 12 cm có một đầu uống cong; một ống hút nhựa dài 16cm và một lọ thuỷ tinh hình trụ cao khoảng 8cm có phần thân rộng nhất đường kính 4cm.
Tại phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận với Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt và mức hình phạt đã đề nghị.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp biên bản xác định hiện trường, lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 22/7/2024, sau khi Đặng Hữu L trộm cắp được 05 con chó của chị Nguyễn Thị Hoàng Y, L chở Trần Bảo G đem bán được số tiền 2.800.000 đồng, cả hai thống nhất dùng số tiền phạm tội có được mua ma túy cùng nhau sử dụng. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 22/7/2024, tại nhà của Đặng Hữu L ở địa chỉ số A, đường Đ, khu phố D, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh), Đặng Hữu L và Trần Bảo G đã cùng nhau sử dụng hết số ma túy (loại Methamphetamine) đã mua của đối tượng không rõ nhân thân lai lịch với giá 500.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (nay là Toà án nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh) truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Hành vi mà các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy. Hiện nay, tình hình nghiện hút chất ma túy đang diễn ra phức tạp trong mọi tầng lớp. Tệ nạn này là mối quan tâm của toàn xã hội, một trong những nguyên nhân dẫn đến tệ nạn này chưa được đẩy lùi chính là có sự tiếp tay của các bị cáo. Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn giữa các bị cáo. Trong đó bị cáo Đặng Hữu L là người trực tiếp mua ma túy và cùng bị cáo Trần Bảo G tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà bị cáo L. Các bị cáo là người có nhân thân xấu, có tiền sự (đã bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý); bị cáo Đặng Hữu L có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản.
Do đó, để có tác dụng giáo dục các bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Đối với bị cáo Trần Bảo G: Không có tình tiết tăng nặng.
- Đối với bị cáo Đặng Hữu L: Ngày 12 tháng 01 năm 2021, bị Toà án nhân dân thị xã Bến Cát (nay là Toà án nhân dân khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh) xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 03/2021/HS-ST (bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/8/2022 và nộp án phí ngày 15/3/2021, bị cáo chưa thi hành phần bồi thường về dân sự), bị cáo chưa được xóa án tích nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Ngày 25 tháng 10 năm 2024, Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương (nay là Toà án nhân dân khu vực 18- Thành phố Hồ Chí Minh) xử phạt bị cáo Trần Bảo G 01 năm 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; xử phạt bị cáo Đặng Hữu L 01 năm 04 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và 07 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, tổng hợp hình phạt bị cáo Đặng Hữu L phải chấp hành chung của hai tội là 01 năm 11 tháng tù, theo Bản án số 263/2024/HS-ST. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của Bản án số 263/2024/HS-ST, ngày 25/10/2024 đối với bị cáo Trần Bảo G, bị cáo Đặng Hữu L.
[7] Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, căn cứ vào nhân thân bị cáo, xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về vật chứng: Căn cứ quy định tại Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm: Một ống thuỷ tinh hình trụ dài khoảng 12 cm có một đầu uống cong; một ống hút nhựa dài 16cm và một lọ thuỷ tinh hình trụ cao khoảng 8cm có phần thân rộng nhất đường kính 4cm.
[9] Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
Các Điều 106, 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Điều 268 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật tố tụng hình sự; Các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Bảo G và Đặng Hữu L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
- Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 56, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Bảo G 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 263/2024/HS- ST, ngày 25/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương (nay là Toà án nhân dân khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh). Bị cáo Trần Bảo G phải chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm 11 (mười một) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/7/2024.
- Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 56, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đặng Hữu L 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 11 (mười một) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tại Bản án số 263/2024/HS-ST, ngày 25/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương (nay là Toà án nhân dân khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh). Bị cáo Đặng Hữu L phải chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/7/2024.
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm: Một ống thuỷ tinh hình trụ dài khoảng 12 cm có một đầu uống cong; một ống hút nhựa dài 16cm và một lọ thuỷ tinh hình trụ cao khoảng 8cm có phần thân rộng nhất đường kính 4cm.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 135.25 ngày 10/6/2025 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Bảo G, Đặng Hữu L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tội trộm cắp tài sản số 52/2025/HS-ST ngày 10/09/2025
| Số hiệu: | 52/2025/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Quận Tân Bình - Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 10/09/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về