TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
BẢN ÁN 520/2022/HS-ST NGÀY 09/12/2022 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Hôm nay, ngày 09 tháng 12 năm 2022, tại hội trường Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 486/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 437/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H (tên gọi khác: không), sinh ngày 07/8/1995, tại Thái Nguyên. Nơi thường trú: xóm Đ, xã Y, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: không; trình độ H vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; Giới tính: Nam; Con ông: Nguyễn Văn R, sinh năm 1956 và bà Đinh Thị Q, sinh năm 1956; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình, vợ: Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 2001, có 01 con sinh năm 2019; Tiền sự: không Tiền án: 01-Tại Bản án số 189/2020/HSST ngày 21/5/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 27 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt ngày 27/01/2022.
Nhân thân: 01-Tại Bản án số 80/2015/HSST ngày 30/9/2015 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “ Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong thời gian thử thách ngày 30/3/2017; Chấp hành xong án phí ngày 28/01/2016.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/8/2022 đến nay, hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Thái Nguyên (có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại: Anh Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1990 (có đơn xin xét xử vắng mặt) Địa chỉ: tổ x, phường C, TPSC, tỉnh Thái Nguyên
*Người làm chứng: Anh Bùi Văn C, sinh năm 1975 ( vắng mặt) Nơi thường trú: tổ X, phường T, TPTN, tỉnh Thái Nguyên; Nơi làm việc: Nhân viên bảo vệ Bệnh viện X
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 17/8/2022 Nguyễn Văn H đi từ nhà vào Bệnh viện X với mục đích xem có ai sở hở trộm cắp tài sản, khoảng 02 giờ ngày 18/8/2022 H đi vào khoa sản của Bệnh viện X, khi đi ngang phòng 15 tầng 2 thấy cửa phòng mở, H đi vào phòng thấy trên mặt bàn giữa phòng có 03 chiếc điện thoại nên nảy sinh ý định trộm cắp. H quan sát nhìn xung quanh không thấy ai đi lại nên đi đến gần đến chiếc bàn dùng tay phải cầm tay 03 chiếc điện thoại (gồm: 01 chiếc nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu vàng) sau xác định là tài sản của anh Nguyễn Hồng Q, trú tại tổ x, phường C, TPSC, tỉnh Thái Nguyên bỏ vào túi quần bên phải của H rồi đi ra khỏi phòng. Sau khi lấy trộm được 03 chiếc điện thoại H đi ra sảnh tầng 2 trước cửa khoa cấp cứu, H lấy 03 điện thoại vừa trộm cắp được tắt nguồn và cho 03 chiếc điện thoại trên vào túi da màu đen đeo trước ngực và nằm ngủ tại ghế hành lang tầng 2. Đến khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày anh Q tỉnh dậy, phát hiện mất 03 chiếc điện thoại nên đã báo bảo vệ của Bệnh viện X là anh Bùi Văn C, sinh năm 1975, địa chỉ tổ X, phường T, TPTN, tỉnh Thái Nguyên sau đó anh C gọi điện trình báo công an phường Thịnh Đán. Khoảng 04 giờ sáng tổ công tác công an phường Thịnh Đán và anh C đi xung quanh bệnh viện để kiểm tra thì phát hiện H đang ngủ ở hành lang tầng 2 khoa khám bệnh đã yêu cầu làm việc, H thừa nhận trộm cắp tài sản và giao nộp 03 điện thoại vừa trộm cắp được.
Tại Bản kết luận số 218/HĐĐGTS ngày 18/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Thái Nguyên kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 promax, màu vàng dung lượng 256G, số máy MWH62LL/A , tình trạng đã qua sử dụng trị giá: 10.990.000 đồng; 01 điện thoai di động nhãn hiệu IPHONE XS MAX màu vàng, dung lượng 256G, tình trạng đã qua sử dụng; trị giá: 6.490.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J7 PRIME màu vàng, tình trạng đã qua sử dụng trị giá:
1.399.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 18.879.000 đồng (Mười tám triệu tám trăm bẩy chín nghìn đồng).
Tại bản Cáo trạng số 491/CT-VKSTPTN ngày 26 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên luận tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 18-24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 túi da có quai đeo, màu đen, tỉnh trạng đã qua sử dụng. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14 Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, tại lời nói sau cùng bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử bị cáo là con duy nhất bố mẹ già con còn nhỏ xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[1.2] Tại phiên tòa anh Nguyễn Hồng Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại.
[2] Nhận định của Hội đồng xét xử về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án như Đơn trình báo; Biên bản tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, biên bản sự việc; lời khai của bị hại và phù hợp với Kết luận định giá tài sản. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 02 giờ ngày 18/8/2022 tại phòng số 15, tầng 2 khoa Sản Bệnh viện X thuộc tổ 1, phường Thịnh Đán, thành phố Thái Nguyên, khi quan sát không có người đi lại tại hành lang, lợi dụng anh Quân ngủ say nên H lén lút lấy 03 chiếc điện thoại gồm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu vàng của anh Nguyễn Hồng Q cho vào túi sau đó đi đến khu vực tầng 2 khoa cấp cứu tắt nguồn và cho vào túi đeo trước ngực rồi nằm ngủ ở hành lang. Sau khi nhận được tin báo bảo vệ và công an phường Thịnh Đán kiểm tra bắt giữ Nguyễn Văn H cùng toàn bộ tài sản trộm cắp hồi 04 giờ cùng ngày, Hội đồng định giá tài sản xác định tổng trị giá tài sản trộm cắp là 18.879.000 đồng (Mười tám triệu tám trăm bẩy chín nghìn đồng).
[3] Với hành vi lén lút, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu, Nguyễn Văn H đã lấy 03 điện thoại di động với trị giá là 18.879.000 đồng hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.
[4] Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo xâm phạm tài sản công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an địa phương và xã hội vì vậy cần phải được xử lý bằng pháp luật hình sự [5] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Năm 2020 bị cáo bị xét xử về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đến nay bản án chưa được xóa án tích nên bị cáo phạm tội thuộc trường hợp Tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo có nhân thân xấu, bị xét xử nhiều lần về hành vi khác nhau trong đó có hành vi Trộm cắp tài sản, sau khi chấp hành các bản án bị cáo không lấy đó làm bài H để tu dưỡng rèn luyện mà tiếp tục lao vào con đường phạm tội do đó cần phải xét xử nghiêm khắc buộc phải cách ly xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng chống tội phạm chung.
[6] Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng" do đó bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung bằng hình phạt tiền. Tuy nhiên xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản gì riêng nên không có đủ điều kiện và khả năng thi hành hình phạt bổ sung, do đó Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Trách nhiệm dân sự: Đối với tài sản trộm cắp 03 điện thoại (gồm 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 promax, màu vàng; 01 điện thoại di động IPHONE XS MAX màu vàng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J7 PRIME màu vàng) đã thu hồi được, ngày 19/9/2022 cơ quan điều tra đã trả lại 03 điện thoại trên cho anh Nguyễn Hồng Q quản lý, sử dụng, anh Q có đơn xin xét xử vắng mặt đồng thời không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét.
[8] Xử lý vật chứng: Đối với túi da có quai đeo, màu đen bị cáo sử dụng đựng tài sản trộm cắp, tài sản đã qua sử dụng không còn giá trị nên tịch tiêu hủy. [9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[10] Mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa đối với bị cáo là phù hợp được xem xét.
Vì các lẽ trên, Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội "Trộm cắp tài sản"
[2] Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt: Nguyễn Văn H 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2022.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn H 45 (Bốn mươi năm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án
[3] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét
[5] Xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) túi da có quai đeo, màu đen, tình trạng đã qua sử dụng.
(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 80 lập ngày 02/11/2022 giữa Công an thành phố Thái Nguyên và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên).
[6] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách nhà nước.
[7] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Nguyễn Hồng Q có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án về tội trộm cắp tài sản số 520/2022/HS-ST
| Số hiệu: | 520/2022/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Thái Nguyên - Thái Nguyên |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 09/12/2022 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về