Bản án về tội trộm cắp tài sản số 45/2022/HS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 45/2022/HS-ST NGÀY 27/07/2022 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

 Trong ngày 27 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2022/QĐXXST-HS ngày 15/7/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn L, tên gọi khác: Không; sinh ngày 05 tháng 6 năm 1993, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn 11, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T, sinh năm: 1968, con bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1972; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án: Ngày 04 tháng 6 năm 2020 bị Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số:55/2020/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt ngày 23 tháng 7 năm 2021 chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Ngày 28 tháng 02 năm 2022 bị chủ tịch UBND xã Quỳnh Liên, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An xử phạt 2.500.000đ về hành vi “trộm cắp tài sản” theo quyết định số 98/QĐ-UBND, nộp phạt ngày 22 tháng 3 năm 2022.

Nhân thân: Ngày 20 tháng 01 năm 2019 bị Công an thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An xử phạt hành chính về hành vi “tàng trữ trái phép chất ma túy” với số tiền 1.500.000đ theo quyết định số 13/QĐ-XPVPHC, nộp phạt năm 2019.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/5/2022, đến nay (có mặt).

- Ngƣời bị hại:

+ Anh Hồ Văn T, sinh năm: 1984 (vắng mặt) Trú tại: Khối Á, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

+ Anh Nguyễn Anh T, sinh năm: 1976 (vắng mặt) Trú tại: Khối H, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

- Ngƣời có quyền lợi – nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1989 (vắng mặt) Nơi ĐKHKTT: Xóm 4, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An Chỗ ở hiện nay: Khối 5, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

+ Chị Lê Thị H, sinh năm: 1986 (vắng mặt) Trú tại: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

+ Ông Lê Văn T, sinh năm: 1968 (vắng mặt) Trú tại: Thôn 11, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 08 tháng 5 năm 2022 đến ngày 10 tháng 5 năm 2022 Lê Văn L đã thực hiện hai hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 22 giờ 50 phút, ngày 08 tháng 5 năm 2022 L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37L1-378.xx đi từ phường Q xuống phường Q và đi dọc theo đường ven biển xuống cảng cá. Khi đi đến xưởng cơ khí của anh Nguyễn Anh T tại khối H, phường Q, lúc này xưởng cơ khí đã đóng cửa. L quan sát thấy hai thanh sắt loại sắt đường ray đang để trước thềm, lợi dụng trời tối, vắng người qua lại nên L đã nảy sinh ý định trộm cắp hai thanh sắt này để lấy tiền tiêu xài. Lúc này L dựng xe mô tô trước xưởng cơ khí, xuống xe đi vào thềm trước xưởng dùng hai tay bê hai thanh sắt để lên phía trước xe mô tô. Sau đó L điều khiển xe chở hai thanh sắt đi về phòng trọ tại khối Đ, phường Q, thị xã H và cất giấu ở bụi cây cỏ phía bờ tường ngoài khu vực phòng trọ rồi đi ngủ. Đến 11 giờ ngày 09 tháng 5 năm 2022 L điều khiển xe mô tô BKS 37L1-xxxxx chở theo hai thanh sắt mang đi bán ở cửa hàng thu mua phế liệu T. Khi đến cửa hàng L gặp chị Nguyễn Thị H là người quản lý cửa hàng. Tại đây L hỏi chị H có mua sắt vụn không, chị H đồng ý mua vào báo cho L biết giá là 11.000đ/01kg. Sau đó chị H cân hai thanh sắt và nói mua với số tiền 197.000đ, L đồng ý nhận tiền rồi lái xe về phòng trọ. Số tiền này L đã tiêu xài hết vào mục đích cá nhân.

Vụ thứ hai: Vào khoảng 1 giờ 30 phút, ngày 10 tháng 5 năm 2022, do cần tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng nên Lê Văn L tiếp tục đến địa bàn phường Q, thị xã H với mục đích trộm cắp tài sản. L điều khiển xe mô tô BKS 37L1-xxxxx đi từ phòng trọ chạy theo đường chính qua cầu Q, L quan sát phía bên trái đường thì phát hiện nhà anh Hồ Văn T gần khu vực đề Cờn trong thuộc khối Á, phường Q có hai bình Ắc quy loại 12V-150AH, nhãn hiệu Pinaco-Dongnai, màu sơn trắng đen để ở trước hiên nhà bên trên đống củi. Lợi dụng phía trong nhà đã tắt điện, cửa nhà đóng, xung quanh vắng người qua lại, nên L đã dừng xe mô tô trước cửa nhà ở phía ngoài đường rồi đi vào bê hai bình ắc quy đi đến cửa hàng thu mua phế liệu của chị Lê Thị H để bán. Tuy nhiên do trời chưa sáng, cửa hàng đóng cửa nên L đứng đợi ngoài vỉa hè trước cửa hàng. Đến 7 giờ 30 phút cùng ngày, chị H mở cửa thì L đi vào hỏi chị H có mua ắc quy không, chị H trả lời có và báo cho L biết là 22.000đ/01kg. L đồng ý, chị H cân hai bình ắc quy lên rồi báo cho L biết mua được số tiền 840.000đ. L nhận tiền rồi điều khiển xe mô tô về phòng trọ, số tiền trên L mua ma túy sử dụng mà tiêu xài hết.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 08/KLĐG ngày 13/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của UBND thị xã Hoàng Mai kết luận:

- 02 bình ắc quy 12V-150AH, nhãn hiệu PINACO-DONGNAI, kích thước (50x22x20)cm, sơn màu trắng đen, tổng khối lượng 67kg, hai bình ắc quy có đặc điểm giống nhau, đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm chiếm đoạt là 1.474.000đ (một triệu, bốn trăm bảy mươi tư nghìn đồng) Tại bản kết luận định giá tài sản số 09/KLĐG ngày 27/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của UBND thị xã Hoàng Mai kết luận:

- 01 thanh sắt kích thước dài 56cm, cao 14cm, rộng 10cm, cân nặng 20,5kg đã bị rỉ sét, đã qua sử dụng tại thời điểm chiếm đoạt có giá trị 225.500đ (hai trăm hai mươi lăm nghìn, năm trăm đồng) - 01 thanh sắt có kích thước dài 65cm, cao 14cm, rộng 07cm, cân nặng 23kg đã bị rỉ sét, đã qua sử dụng tại thời điểm chiếm đoạt có giá trị 253.000đ (hai trăm năm mươi ba nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản là 1.952.500đ (một triệu, chín trăm năm mươi hai nghìn, năm trăm đồng) Tại bản Cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 04 tháng 7 năm 2022, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai đã truy tố Lê Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173- BLHS.

Tại phiên toà, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 - BLHS: Xử phạt bị cáo Lê Văn L từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi – nghĩa vụ liên quan đều không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan CSĐT Công an thị xã Hoàng Mai đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu đúng quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nhất trí về tội danh, mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị, bị cáo không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người bị hại, lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra cũng như vật chứng thu giữ được. Lời khai nhận tội của bị cáo còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được đưa ra xem xét tại phiên tòa. Từ đó đã xác định được vào 22 giờ 50 phút, ngày 08 tháng 5 năm 2022 bị cáo đã đến xưởng cơ khí của anh Nguyễn Anh T tại khối H, phường Q, lợi dụng lúc trời tối, vắng người qua lại nên bị cáo đã lén lút chiếm đoạt hai thanh sắt đường ray của anh T với tổng giá trị là 1.952.500đ. Đến khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 10 tháng 5 năm 2022 bị cáo tiếp tục đến nhà Hồ Văn T thuộc khối Á, phường Q, lợi dụng không có người quản lý, vắng người qua lại nên bị cáo đã lén lút chiếm đoạt của anh T hai bình ắc quy loại 12V-150AH có tổng giá trị là 1.474.000đ. Mặc dù trị giá tài sản mà bị cáo chiếm đoạt dưới 2.000.000đ tuy nhiên bị cáo có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản nhưng chưa được xóa nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173- BLHS, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản, gây bất bình trong xã hội, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, ý thức được tài sản của người khác là bất khả xâm phạm nhưng với bản chất lười lao động, ham chơi nhưng lại muốn có tiền tiêu xài, sử dụng ma túy nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy cần có đường lối xử phạt nghiêm minh tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Ngày 04 tháng 6 năm 2020 bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 23 tháng 7 năm 2021 chưa được xóa án tích. Nay bị cáo phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm vì vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS. Bản thân bị cáo năm 2019 còn bị Trưởng công an thị xã Hoàng Mai xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng bị cáo không lấy đây làm bài học để rèn luyện bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.

Tuy nhiên cũng cần xem xét cho bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51- Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra kết hợp với xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử thấy rằng, tài sản mà bị cáo chiếm đoạt có giá trị thấp nhưng bị cáo có 01 tiền án và đã bị xử phạt hành chính. Điều đó chính tỏ bị cáo là người xem thường pháp luật, không có khả năng cải tạo ngoài xã hội. Vì vậy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội .

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173- BLHS thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo lao động động tự do, thu nhập thấp, không ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại anh Hồ Văn T đã nhận lại được toàn bộ tài sản do bị cáo chiếm đoạt, anh Nguyễn Anh T mới nhận được 01 thanh sắt. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H, chị Lê Thị H chưa được bị cáo trả lại số tiền mua tài sản. Tuy nhiên anh T, anh T, chị H, chị H đều không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Xét ý kiến của họ là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại các Điều 192 và 194 - BLDS, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến và không xem xét.

[6] Vật chứng vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Đối với chị Nguyễn Thị H, Lê Thị H là người đã mua tài sản do bị cáo trộm cắp được mà có. Tuy nhiên chị H, chị H đều không biết tài sản do bị cáo trộm cắp được mà có nên chị H, chị H không phạm tội.

Ông Lê Văn T là người cho bị cáo mượn xe mô tô biển kiểm soát 37L1- xxxxx nhưng ông T không biết bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên ông T không phạm tội. Nay ông T cũng đã nhận lại được tài sản và không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Văn L12 (mười hai) tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để tạm giam ngày 13 tháng 5 năm 2022.

2. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 - BLTTHS; các điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Lê Văn L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi – nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T có mặt được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An. Những người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt, được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

83
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội trộm cắp tài sản số 45/2022/HS-ST

Số hiệu:45/2022/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Hoàng Mai - Nghệ An
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:27/07/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về