Bản án về tội trộm cắp tài sản số 44/2025/HS-ST ngày 29/09/2025

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - TỈNH CAO BẰNG

BẢN ÁN 44/2025/HS-ST NGÀY 29/09/2025 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Trong ngày 29 tháng 9 năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng tiến hành xét xử trực tuyến công khai giữa điểm cầu trung tâm hội trường xét xử số 01, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng với điểm cầu thành phần phòng hỏi cung số 01 - Phân trại tạm giam khu vực 1 - Cao Bằng vụ án hình sự thụ lý số: 37/2025/HSST ngày 09 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Đinh Văn H (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 08 tháng 5 năm 1977 xã Phục Hoà, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố Đông Th, xã Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng); Nghề nghiệp: lao động tự do; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông: Phan Văn T. (Đã chết); Con bà: Đinh Thị K. (Đã chết); Vợ: Bế Hồng N; Con: Có 01 con sinh năm 1998; Anh chị em ruột: Bị cáo là con một trong gia đình; Tiền sự: không; Tiền án: Có 01 tiền án. Ngày 13/6/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xử phạt 24 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản; Nhân thân: Ngày 07/12/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 12 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản; Ngày 21/5/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng xử phạt 12 tháng tù về Tội cướp giật tài sản; Ngày 14/3/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Phục Hoà, tỉnh Cao Bằng xử phạt 18 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tam giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng từ ngày 27/6/2025 đến nay, Có mặt tại phiên toà.

- Bị hại:

1. Nông Ngọc Q, sinh năm: 1954,

Địa chỉ: Xóm Lũng D, xã Minh Tâm, tỉnh Cao Bằng

2. Lê Thị Ph, sinh năm: 1993,

Địa chỉ: Khu phố Ngọc B, xã Kim Tân, tỉnh Thanh Hoá;

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bế Hồng N, sinh năm: 1977,

Đại chỉ: Tổ dân phố Đông Th, xã Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng

Bị hại ông Quát bà Phượng đều có đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nở có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 06 giờ ngày 27/6/2025, Hướng một mình điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda AirBlade, biển kiểm soát 11B1-146.xx từ nhà ở xã Quảng Uyên đến chợ Nước Hai, xã Hoà An với mục đích trộm cắp tài sản. Đến chợ Nước Hai, Hướng gửi xe môtô và đi bộ vào bên trong chợ, vừa đi vừa quan sát xung quanh tìm người sơ hở trong việc quản lý tài sản để lấy trộm. Khoảng 08 giờ 20 phút cùng ngày, Hướng thấy trong túi áo phía trước bên phải của ông Quát đang mặc có 01 chiếc ví da màu đen nên bước đến gần. Lợi dụng ngày chợ phiên đông người đi lại, Hướng áp sát, chèn vào người ông Quát đồng thời tay trái của Hướng thò vào trong túi áo của ông Quát cầm lấy chiếc ví. Hướng định bỏ đi thì bị Công an phát hiện và bắt quả tang.

Mở rộng điều tra xác định: Ngoài lần thực hiện hành vi trộm cắp trên, Hướng còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của chị Lê Thị Ph (sinh ngày 13/02/1993, trú tại: Khu phố Ngọc B, xã Kim Tân, tỉnh Thanh Hoá), cụ thể: Khoảng 08 giờ, ngày 18/6/2025, với cách thức, thủ đoạn tương tự, Hướng đi đến đoạn đường đối diện Trung tâm văn hoá và Truyền thông (thuộc phố B, xã Hoà An) nhìn thấy chị Ph đeo 01 chiếc túi vải màu trắng đi ngược chiều, trong túi có 01 chiếc ví da màu đen nên đã bám theo sau. Lợi dụng chị Ph đang trao đổi mua hàng hoá, H áp sát người chị Ph đồng thời dùng tay trái thò vào trong túi vải lấy chiếc ví của chị Ph. Hướng cầm ví đi thẳng đến đoạn đường vắng (thuộc phố A, xã Hoà An) và lấy ví ra kiểm tra thấy bên trong có tổng số tiền 1.950.000 đồng và nhiều giấy tờ cá nhân. H lấy hết tiền, còn chiếc ví vứt vào bụi cây bên cạnh rồi lấy xe môtô đi về nhà. Số tiền trộm cắp được, H sử dụng hết vào mục đích tiêu xài cá nhân. Ngày 27/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm và thu giữ chiếc ví cùng toàn bộ giấy tờ của chị Ph do H bỏ lại trong bụi cây.

Ngày 30/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra ban hành Yêu cầu định giá tài sản số 4780 đối với 02 chiếc ví da H đã chiếm đoạt. Tại Công văn số 3354, ngày 10/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Cao Bằng xác định: Hội đồng định giá đã tiến hành trình tự, thủ tục để định giá tài sản theo quy định, tuy nhiên không có căn cứ nào trong 05 căn cứ định giá quy định tại Nghị định số 30/2018/NĐ-CP, Thông tư số 30/2025/TT-BTC để xác định giá trị tài sản. Do đó, Hội đồng định giá không xác định được giá trị của 02 chiếc ví da. Tại Bản cáo trạng số: 28/CT - VKSKV1, ngày 08 tháng 9 năm 2025. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng đã truy tố bị cáo Đinh Văn H về tội “Trộm cắp tài sản" theo qui định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà:

Bị cáo H đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt và bản khai tại cơ quan điều tra bị hại ông Q xác nhận: Sáng ngày 27/6/2025, tại chợ trung tâm thị trấn Nước hai ông bị mất trộm 01 chiếc ví da bên trong có số tiền 8.170.000 đồng. Nay Công an tiến hành xác minh, điều tra xác định được Đinh Văn H là người đã lấy trộm 01 chiếc ví da bên trong có số tiền 8.170.000 đồng và đã trả lại tài sản cho tôi nên không có ý kiến hay yêu cầu gì thêm.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt chị Lê Thị Ph xác nhận: Sáng ngày 18/6/2025, tại chợ trung tâm thị trấn Nước hai chị bị mất trộm 01 chiếc túi vải màu trắng bên trong có tổng số tiền 1.950.000 đồng và nhiều giấy tờ cá nhân. Nay Công an tiến hành xác minh, điều tra xác định được Đinh Văn H là người đã lấy trộm túi xách của tôi, đề nghị HĐXX xử lý trách nhiệm hình sự bị cáo theo quy định của pháp luật và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Bế Hồng N xác nhận: Bà là vợ của bị cáo H, xe mô tô, nhãn hiệu Honda AirBlade, biển kiểm soát 11B1-146.xx, đã qua sử dụng là tài sản thuộc sở hữu của bà cho chồng mượn để đi lao động kiếm tiền. Bà không biết Hướng lấy xe đi thực hiện hành vi trộm cắp và không cho phép. Nay đề nghị Tòa án trả lại xe cho bà để làm phương tiện đi lại kiếm sống vì xe đó là tài sản duy nhất trong gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, đề nghị HĐXX:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Về hình phạt: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, các điểm g, h, i khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đinh Văn H hình phạt tù có thời hạn, mức phạt từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại ông Q đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị HĐXX không đặt vấn đề xem xét.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt bà Ph không có yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.950.000đ. Tuy nhiên đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên cần truy thu số tiền 1.950.000đ đề sung Ngân sách nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị HĐXX xử:

Tịch thu phát mại sung Ngân sách nhà nước 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda AirBlade, biển kiểm soát 11B1-146.xx, đã qua sử dụng, vì đây là tài sản phương tiện dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội.

Về án phí, đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải chịu nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

* Bị cáo H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nở tranh luận xin được trả lại xe máy với lý do tiền mua xe là của bà N, bà N không biết bị cáo dùng xe đi làm phương tiện phạm tội.

*Đại diện Viện kiểm sát tranh luận vẫn giữ nguyên đề nghị tịch thu phát mại sung Ngân sách 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda AirBlade, biển kiểm soát 11B1-146.xx, đã qua sử dụng. Còn yêu cầu của bà N sau này đề nghị làm đơn khởi kiện thành vụ án dân sự khác.

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận thêm với bản luận tội của kiểm sát viên về tội danh và hình phạt. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về Tội danh: Tại phiên tòa bị cáo H đã khai nhận toàn bộ hành vi Trộm cắp tài sản mà bị cáo đã thực hiện. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, qua đó đã chứng minh được: Để có tiền tiêu sài cá nhân, Đinh Văn H đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác tại chợ Nước Hai, xã Hoà An, tỉnh Cao Bằng: Lần thứ nhất, ngày 18/6/2025 trộm cắp số tiền 1.950.000 đồng (một triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) của chị Lê Thị Ph; Lần thứ hai, ngày 27/6/2025, trộm cắp số tiền 8.170.000 đồng (tám triệu một trăm bảy mươi nghìn đồng) của ông Nông Ngọc Q (là người đủ 70 tuổi trở lên). Tổng số tiền H chiếm đoạt là 10.120.000 đồng (mười triệu một trăm hai mươi nghìn đồng). Hành vi của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản.

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

………

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

………

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng truy tố bị cáo Đinh Văn H tội Trộm cắp tài sản là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo Đinh Văn H đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự công cộng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là phạm pháp, nhưng do bản thân bị cáo thích ham chơi, lười lao động, để có tiền phục vụ nhu cầu cá nhân, bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm 02 lần trở lên và đối với người đủ 70 tuổi trở lên. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 03 tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên”, “Tái phạm”, “Phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên” quy định tại điểm g, h, i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra khai báo thành khẩn nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Đinh Văn H là người có nhân thân xấu đã nhiều lần đi chấp hành hình phạt tù về tội trộm cắp tài sản, trở về địa phương, bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm, Để có tiền tiêu sài cá nhân, bị cáo đã tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác, thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Do đó, HĐXX xét thấy cần có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định, để bị cáo có thời gian suy nghĩ, cải tạo bản thân trở thành công dân lương thiện có ích cho xã hội sau này, đồng thời để phòng ngừa bị cáo tiếp tục phạm tội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và không có thu nhập ổn định, chưa có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại ông Q đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không đặt vấn đề xem xét.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt bị hại bà Ph không có yêu cầu nên HĐXX không đặt vấn đề xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda AirBlade, biển kiểm soát 11B1-146.xx, đã qua sử dụng, đây là phương tiện phạm tội, còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền trộm cắp của bị hại Ph 1.950.000đ. Đây là vật chứng số tiền do phạm tội mà có nên cần Truy thu sung ngân sách Nhà nước.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về Điều luật áp dụng:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, các điểm g, h, i khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đinh Văn H;

2. Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn H phạm tội "Trộm cắp tài sản"'

3. Về hình phạt. Xử phạt bị cáo Đinh Văn H 02 năm 08 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, ngày 27/6/2025. .

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự xử:

Tịch thu phất mại sung ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda AirBlade, biển kiểm soát 11B1-146.xx, đã qua sử dụng.

Vật chứng trên được lưu tại kho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng theo biên bản giao nhận số 127 ngày 12/9/2025.

Truy thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 1.950.000đ do phạm tội mà có.

6. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử buộc bị cáo Đinh Văn H phải chịu nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung Ngân sách Nhà nước.

7. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án, phần quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, ngày 29/9/2025. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

12
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội trộm cắp tài sản số 44/2025/HS-ST ngày 29/09/2025

Số hiệu:44/2025/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cao Bằng - Cao Bằng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:29/09/2025
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về