TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
BẢN ÁN 43/2025/HS-ST NGÀY 16/01/2025 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Ngày 16 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm C khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Lê Đăng D , sinh ngày 13/10/2006;
HKTT: Thôn An H, xã Thành C, thành phố Phổ Y, tỉnh T NguY. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Đăng T, sinh năm 1982 và bà Trịnh Thị T1, sinh năm 1982; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là thứ nhất; Vợ, con: Chưa có.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân: Ngày 16/5/2021, C an thị xã Phổ Y quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 80632 về hành vi “Trộm cắp tài sản”, hình thức “Cảnh cáo” theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/10/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam C an tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt tại phiên tòa).
2. Triệu Kim O, sinh ngày 13/10/2006;
HKTT: Thôn Đầm B xã Phúc T, thành phố Phổ Y, tỉnh T NguY.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con Triệu Ngọc S, sinh năm 1978 và bà Đặng Thị Quý H, sinh năm 1983; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là thứ hai; chồng, con: Chưa có.
- Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/10/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam C an tỉnh Bắc Ninh (Có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Anh Dương Đình H, sinh năm 2002 (Xin vắng mặt);
HKTT: Tổ 1, phường Tích L, thành phố T NguY, tỉnh T NguY.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Đặng Thị Quý H, sinh năm 1983 (Có mặt);
HKTT: Thôn Đầm B xã Phúc T, thành phố Phổ Y, tỉnh T NguY.
2. Anh Lê Đăng T, sinh năm 1982 (Có mặt);
HKTT: Thôn An H, xã Thành C, thành phố Phổ Y, tỉnh T NguY.
3. Anh Nguyễn Gia T, sinh năm 1990 (Xin vắng mặt);
Địa chỉ: Thôn Đại Vi, xã Đại Đồng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 15/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra C an huyện Tiên Du nhận được đơn trình báo của anh Dương Đình H, sinh năm 2002, hộ khẩu thường trú (HKTT) tại Tổ 1, phường Tích L, thành phố T NguY, tỉnh T NguY về việc bị trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc, biển kiểm soát (BKS) 20B2-xxxxx cùng giấy chứng nhận đăng ký xe ngày 10/8/2024 tại thôn Đại Thượng, xã Đại Đồng.
Ngày 16/10/2024, nhận thức hành vi trộm cắp 01 xe mô tô là vi phạm pháp luật, Lê Đăng D , sinh ngày 16/10/2006, HKTT tại thôn An H, xã Thành C, huyện Phổ Y, tỉnh T NguY và Triệu Kim O, sinh ngày 16/10/2006, HKTT tại thôn Đầm B xã Phúc T, thành phố Phổ Y, tỉnh T NguY đầu thú.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra C an huyện Tiên Du đã làm rõ nội dung vụ việc như sau: Lê Đăng D và Triệu Kim O có mối quan hệ T cảm và đều đang không có việc làm.
Khoảng tháng 8/2024, D liên hệ với chị Trần Thị Thu Thảo, sinh ngày 17/1/2006, HKTT tại xã Đắc S, thành phố Phổ Y, tỉnh T NguY (là bạn của D ) để cho D và O ở nhờ phòng trọ của chị Thảo tại khu trọ của ông Nguyễn Sỹ Hành, sinh năm 1970 ở thôn Đại Thượng, xã Đại Đồng để chờ xin việc. Trong quá trình ở nhờ phòng trọ của chị Thảo, ngày 9/8/2024, D thấy anh Dương Đình H (là người yêu và hiện đang ở trọ cùng chị Thảo) sở hữu chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc, BKS 20B2-xxxxx nên nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe này. D nói với O “Giờ đang không có tiền, tìm cách lấy xe máy của H mang đi bán lấy tiền”, O hiểu ý D muốn trộm cắp chiếc xe trên thì nói “vâng”. Sáng ngày 10/8/2024, anh H điều khiển chiếc xe chở chị Thảo về quê. D tiếp tục nói với O “Lấy xe mà không có đăng ký xe thì sẽ không bán được xe, đi đường sẽ bị C an bắt, tìm cách lấy giấy đăng ký xe trước” thì O nói “Hay là thôi đi, lấy tài sản của họ làm gì”, D nói tiếp “Cứ lấy đi, không sao đâu”, O nói “vâng”. Sau đó, D nhìn thấy ví của anh H để ở bệ cửa sổ của phòng trọ, kiểm tra thấy có giấy đăng ký chiếc xe trên mang tên Dương Đình H nên đã trộm cắp giấy đăng ký xe cất vào túi quần D đang mặc. Đến trưa ngày 11/8/2024, anh H, chị Thảo quay lại phòng trọ và để chìa khóa xe trên bệ cửa sổ rồi đi ngủ. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, thấy anh H chị Thảo đã ngủ say, D nói với O “dậy đi mang xe đi bán”. O lấy quần áo cho vào túi nilon đi ra ngõ trước còn D lấy chìa khóa đang để ở bệ cửa sổ. D cầm chìa khóa đi xuống khu vực nhà để xe tại tầng 1 rồi dắt xe ra khỏi cổng khu trọ, cắm chìa khóa, nổ máy xe và đi ra chỗ O đang chờ ở ngõ rồi cả hai đi đến cửa hàng xe máy của anh Nguyễn Gia T, sinh năm 1990 ở thôn Đại Vi, xã Đại Đồng để bán xe. Thấy xe có giấy đăng ký xe, D nói chiếc xe trên là của D mua chưa là thủ tục sang tên nên anh T đồng ý mua chiếc xe với giá 10.800.000đ. Tuy nhiên, anh T chỉ trả cho D , O số tiền 10.000.000đ còn 800.000đ thì hẹn khi nào mang căn cước C dân đến sẽ trả nốt. Số tiền có được D , O chi tiêu cá nhân hết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 107 ngày 18/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda-Wave, màu đen – bạc, BKS 20B2-xxxxx , số máy JA39E27xxxxx , số khung RLHJA3924NY2xxxxx . Tài sản đã qua sử dụng. Có giá trị còn lại là 15.000.000 đồng.
Quá trình điều tra bị cáo Lê Đăng D và Triệu Kim O đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu ở trên.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 04/CT-VKSTD ngày 31/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Quá trình xét hỏi tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Người liên quan bà H, anh T trình bày: Không có ý kiến yêu cầu gì đối với số tiền đã bỏ ra để trả cho anh T giúp cho các bị cáo.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du thực hành quyền C tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cũng như qua xem xét các T tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo vẫn giữ nguY quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
TuY bố các bị cáo Lê Đăng D và Triệu Kim O phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1, Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều Điều 58, Điều 65, Điều 90, Điều 91, Điều 101 BLHS.
Xử phạt: Lê Đăng D từ 10 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 20 tháng đến 24 tháng kể từ ngày tuY án sơ thẩm.
Xử phạt: Triệu Kim O từ 08 tháng tù đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 16 tháng đến 20 tháng kể từ ngày tuY án sơ thẩm.
Giao bị cáo D cho UBND xã Thành C giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Giao các bị cáo O cho UBND xã Phúc T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Trong phần tranh luận:
Các bị cáo nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt;
Các bị cáo nhận thấy bị Toà án nhân dân huyện Tiên Du xét xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về gia đình và xã hội.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Không có ý kiến tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra C an huyện Tiên Du, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan T1 hành tố tụng, người T1 hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T1 hành tố tụng, người T1 hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị hại anh Dương Đình H và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Gia T vắng mặt tại phiên toà đã có lời khai tại Cơ quan điều tra việc vắng mặt không ảnh hưởng tới việc xét xử vì vậy Hội đồng xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với biên bản xác định hiện trường, biên bản dẫn giải, phù hợp vật chứng thu giữ, với thời gian, địa điểm, lời khai bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Do không có tiền chi tiêu cá nhân, Lê Đăng D và Triệu Kim O nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô cùng đăng ký xe của anh Dương Đình H để bán. Sáng ngày 10/8/2024, tại phòng 304 thuộc khu trọ của ông Nguyễn Sỹ Hành tại thôn Đại Thượng, Lê Đăng D và Triệu Kim O lén lút trộm cắp 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Dương Đình H.
Đến khoảng 14 giờ 30 phút ngày 11/8/2024, tại khu trọ của ông Nguyễn Sỹ Hành, Lê Đăng D và Triệu Kim O tiếp tục lén lút trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc, BKS 20B2-xxxxx trị giá 15.000.000đ của anh Dương Đình H để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân.
Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Lê Đăng D và Triệu Kim O đã phạm tội ''Trộm cắp tài sản'' theo khoản 1, điều 173 BLHS như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp C dân, được pháp luật bảo vệ, gây mất gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng, bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải đưa các bị cáo ra xét xử kịp thời và có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3] Xét vai trò, vị trí của các bị cáo trong vụ án thấy: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm, tuy nhiên chỉ là đồng phạm giản đơn, các bị cáo không câu kết chặt chẽ, cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, không có sự phân C, phân nhiệm vụ rõ ràng. Bị cáo D là người khởi sướng, rủ bị cáo O cùng thực hiện hành vi phạm tội, là người trực tiếp lấy chiếc xe mô tô và trực tiếp giao dịch bán chiếc xe mô tô cho anh T do đó vai trò của bị cáo D cao hơn bị cáo O.
[4] Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các T tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thì thấy:
Bị cáo D chưa có tiền án, tiền sự tuy nhiên đã bị C an thị xã Phổ Y quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 80632 về hành vi trộm cắp tài sản ngày 16/5/2021 khi đó bị cáo chưa đủ 18 tuổi. Bị cáo lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo O là người có nhân thân tốt. Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, các bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và tác động gia đình để bồi thường, khắc phục hậu quả cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, bị hại đã nhận được tài sản đầy đủ không có yêu cầu gì và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Ngoài ra 16/10/2024 các bị cáo đến C an đầu thú, bị cáo O có ông nội là người có C với cách mạng nên các bị cáo được hưởng các T tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Do vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước.
Thời điểm các bị cáo phạm tội đều dưới 18 tuổi, các bị cáo còn trẻ, nhận thức pháp luật chưa đầy đủ nên cần áp dụng các quy định tại chương XII BLHS khi quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là phù hợp.
Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các T tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo và xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du là phù hợp, Hội đồng xét xử xét thấy:
Các bị cáo là người lần đầu phạm tội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khi phạm các bị cáo đều dưới 18 tuổi, có nhiều T tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần xử các bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi nhưng cho các bị cáo cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng đủ để giáo dục các bị cáo trở thành C dân tốt có ích cho xã hội.
Các bị cáo đang bị tạm giam nên trả tự do ngay tại phiên toà cho các bị cáo nếu các bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
[5] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích lấy tiền ăn tiêu, lẽ ra ngoài hình phạt chính cần phạt bổ sung một khoản tiền đối với các bị cáo, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật; Tuy nhiên các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng gì, vì vậy miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Ngày 23/11/2024, chị Đặng Thị Quý H, sinh năm 1983, HKTT tại thôn Đầm B xã Phúc T, thành phố Phổ Y, tỉnh T NguY (là mẹ của O) và ông Lê Đăng T, sinh năm 1981, HKTT tại thôn An H, xã Thành C, thành phố Phổ Y, tỉnh T NguY (là bố của D ) đã cùng bồi thường cho anh T số tiền 10.000.000 đồng, anh T đã nhận tiền và không có yêu cầu, đề nghị gì nên HĐXX không xem xét.
Anh H nhận lại xe mô tô cũng không có yêu cầu, đề nghị gì khác nên HĐXX không xem xét.
Chị Đặng Thị Quý H và anh Lê Đăng T đã bồi thường cho các bị cáo đến nay không yêu cầu các bị cáo phải trả lại nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng của vụ án:
Ngày 16/10/2024, anh T tự nguyện giao nộp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc, BKS 20B2-xxxxx kèm theo giấy đăng ký và chìa khóa xe. Ngày 01/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra C an huyện Tiên Du đã trả chiếc xe cùng giấy đăng ký và chìa khóa xe cho anh H là đúng quy định pháp luật.
[8] Liên quan trong vụ án:
Đối với anh T là người mua chiếc xe của D : Anh T không biết chiếc xe trên là do D và O trộm cắp mà có, khi mua bán có giấy tờ xe do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra C an huyện Tiên Du chỉ giáo dục nhắc nhở đối với anh T là phù hợp.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuuyên các bố bị cáo Lê Đăng D và Triệu Kim O phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Căn cứ khoản 1, Điều 173; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58; các Điều 65, 90, 91, 101 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Lê Đăng D 11 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 22 tháng kể từ ngày tuY án sơ thẩm.
Xử phạt: Triệu Kim O 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuY án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Đăng D cho UBND xã Thành C, thành phố Phổ Y, tỉnh T NguY; giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách
Giao bị cáo Triệu Kim O cho UBND xã Phúc T, thành phố Phổ Y, tỉnh T NguY; giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
Bản án về tội trộm cắp tài sản số 43/2025/HS-ST
| Số hiệu: | 43/2025/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Tiên Du - Bắc Ninh |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 16/01/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về