Bản án về tội trộm cắp tài sản số 43/2021/HSST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH

 BẢN ÁN 43/2021/HSST NGÀY 07/04/2021 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

 Ngày 07 tháng 04 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, Tòa án nhân dân huyện Yên Phong mở phiên toà công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 15/2021/HSST, ngày 28 tháng 01 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2021/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2021, đối với các bị cáo:

1. Phạm Văn L, sinh năm 1988.

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn Vọng Nguyệt, xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Họ và tên cha: Phạm Văn Lợi, sinh năm 1965; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Thùy, sinh năm 1967; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Nguyễn Thị Nga, sinh năm 1991; Con: Bị cáo có hai con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/9/2020 đến đến ngày 01/10/2020 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ và áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt.

2. Hoàng Văn S, sinh năm 1999.

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn Đèo Sặt, xã Đồng Hưu, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Họ và tên cha:

Hoàng Văn Sâm, sinh năm 1975; Họ và tên mẹ: Ngô Thị Liên, sinh năm 1979; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con lớn; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/9/2020 đến đến ngày 01/10/2020 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ và áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt.

Bị hại: Công ty TNHH S.

Địa chỉ: Khu Công nghiệp Yên Phong 1, xã Yên Trung, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông HH – Tổng Giám đốc Công ty TNHH S.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Tiến Lâm – Phó phòng an ninh. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn S: Bà Đặng Thị Hương, Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn L, sinh năm 1988, trú tại thôn Vọng Nguyệt, xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh và Hoàng Văn S, sinh năm 1999, trú tại thôn Đèo Sặt, xã Đồng Hưu, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang đều là công nhân xưởng Main thuộc Công ty TNHH S - Khu công nghiệp Yên Phong, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh (gọi tắt là Công ty SEV). Nhiệm vụ của L là trưởng ca, quản lý tổ công nhân để xử lý chất lượng đầu vào của vật liệu và chất lượng vật liệu trên Line sản xuất. Nhiệm vụ của S là xử lý lỗi ngoại quan đầu vào của vật liệu trên Line sản xuất. L, S được phép mượn vật liệu trên Line sản xuất để về vị trí làm việc trong xưởng Main kiểm tra nhưng không được quản lý vật liệu này. Quá trình làm việc, L và S được Công ty SEV cho phép mang điện thoại di động cá nhân vào trong xưởng Main.

Khoảng đầu tháng 8/2020, chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S20 (điện thoại S20) của Hoàng Văn S bị vỡ màn hình nên S nảy sinh ý định lấy cụm màn hình trong xưởng main lắp thử vào điện thoại của S xem có sử dụng được không. Sau đó, trong lúc làm việc tại xưởng Main (S không nhớ rõ ngày), S lấy 01 cụm màn hình điện thoại S20 lắp vào điện thoại của S thì thấy điện thoại sử dụng bình thường. Vì vậy, S nảy sinh ý định trộm cắp cụm màn hình điện thoại S20 bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. S tháo cụm màn hình vừa trộm cắp được và giấu vào tủ cá nhân rồi lắp cụm màn hình bị vỡ vào. Do S không biết chỗ tiêu thụ cụm màn hình được nên S bàn bạc với Phạm Văn L tìm chỗ tiêu thụ. L đồng ý và lên mạng xã hội zalo tìm người mua cụm màn hình S20 thì có một người thanh niên không quen biết liên hệ và đồng ý mua với giá 1.260.000đ/cụm. Sáng ngày 21/8/2020, L nói với S về việc đã tìm được người mua cụm màn hình điện thoại S20 với giá là 1.260.000 đồng/01 cụm màn hình. S nói với L khi nào trộm cắp được cụm màn hình sẽ đưa cho L bán. L đồng ý. Khoảng 10 giờ ngày 21/8/2020, trong quá trình làm việc tại xưởng Main, S trộm cắp và lắp 01 cụm màn hình điện thoại S20 vào chiếc điện thoại Sam Sung Galaxy S20 của S để thành một chiếc điện thoại di động hoàn chỉnh. Sau đó, S mang chiếc điện thoại di động ra khỏi cửa có nhân viên bảo vệ an ninh mà không bị phát hiện. S ra khu vực để xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 98C1-128.69 (đây là chiếc xe S mượn của ông Hoàng Văn Sâm, sinh năm 1975, bố của S để đi làm) và tháo chiếc cụm màn hình vừa trộm cắp được cất giấu vào trong cốp rồi quay lại xưởng Main của Công ty SEV làm việc tiếp. Với thủ đoạn như trên, từ ngày 21/8/2020 đến ngày 02/9/2020, Hoàng Văn S đã nhiều lần trộm cắp được tổng cộng 23 chiếc cụm màn hình điện thoại S20 trong xưởng Main của Công ty SEV đem ra ngoài cất giấu. Khoảng 1-2 ngày sau, S đưa cho L toàn bộ 23 chiếc cụm màn hình điện thoại S20 để L mang đi bán. Còn S lấy cụm màn hình S20 cất giấu trong tủ cá nhân từ trước đó lắp vào điện thoại để sử dụng.

Sau khi nhận được 23 chiếc cụm màn hình điện thoại S20 mà S đưa, L đã liên hệ với người mua qua zalo và hẹn người này đến cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh để giao dịch. Khoảng 1-2 ngày sau (không nhớ rõ cụ thể ngày), L gặp một nam thanh niên và giao cho người này 23 chiếc cụm màn hình. Người này nhận cụm màn hình và hẹn về kiểm tra chất lượng sau đó sẽ chuyển khoản cho L nhưng đến nay L vẫn chưa nhận được tiền. Đến ngày 09/9/2020, L trả trước cho S số tiền bán 23 chiếc cụm màn hình trộm cắp được là 23.000.000 đồng. S đã tiêu sài cá nhân hết số tiền này. Ngày 22/9/2020, lực lượng an ninh Công ty SEV kiểm tra và phát hiện cụm màn hình lắp trong chiếc điện thoại S20 mà S đang sử dụng là tài sản S trộm cắp của Công ty SEV.

Ngoài hành vi trộm cắp cụm màn hình S20 cùng Hoàng Văn S, Phạm Văn L còn một mình thực hiện hành vi trộm cắp 05 cụm màn hình điện thoại Samsung Galaxy Note20 (điện thoại Note20) trong xưởng Main Công ty SEV. Cụ thể: Trong quá trình sử dụng, chiếc điện thoại Note20 của L bị hỏng màn hình. Khoảng hơn 08 giờ ngày 15/9/2020, khi đang làm việc tại xưởng Main Công ty SEV, Phạm Văn L trộm cắp được 01 cụm màn hình điện thoại Note20 trong xưởng và lắp vào chiếc điện thoại di động Note20 của L để sử dụng. L thấy điện thoại sử dụng bình thường. Đến cuối ca làm ngày 15/9/2020, L mang chiếc điện thoại Samsung Galaxy Note20 có lắp cụm màn hình trộm cắp được ra khỏi công ty nhưng không bị lực lượng bảo vệ phát hiện. L mang chiếc cụm màn hình trộm cắp được về cất giấu tại nhà. Thấy việc trộm cắp cụm màn hình điện thoại Note20 dễ dàng nên L nảy sinh ý định trộm cắp để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Đến ngày 19/9/2020, với thủ đoạn như trên, L trộm cắp được 02 cụm màn hình điện thoại Note20 trong xưởng Main Công ty SEV và mang 01 cụm cất giấu trong tủ cá nhân trong Công ty SEV còn 01 cụm L mang về nhà cất giấu. Tối ngày 21/9/2020, khi L đi làm thì lấy 02 cụm màn hình điện thoại Note20 trộm cắp trước đó và giấu vào cốp xe ô tô nhãn hiệu Deawoo Laceti, S màu đen, biển kiểm soát 29A-102.32 (chiếc xe trên là của anh Phạm Văn Nam – Sinh năm 1986, anh trai L) rồi đi đến Công ty SEV làm việc. Quá trình làm việc đến khoảng gần 24 giờ ngày 21/9/2020, L tiếp tục trộm cắp 01 cụm màn hình điện thoại Note20 và mang ra cất giấu trong cốp xe ô tô nhãn hiệu Deawoo Laceti, biển kiểm soát 29A-102.32. Đến khoảng 01 giờ ngày 22/9/2020, trong quá trình làm việc, L tiếp tục trộm cắp 01 cụm màn hình điện thoại Note20 và lắp vào chiếc điện thoại di động Note20 của L. Đến khoảng 03 giờ cùng ngày, Phạm Văn L bị lực lượng an ninh Công ty SEV kiểm tra và phát hiện cụm màn hình lắp trong chiếc điện thoại Note20 là tài sản L trộm cắp của Công ty SEV.

Sau khi phát hiện sự việc, Công ty SEV tiến hành thu giữ 02 chiếc điện thoại mà Phạm Văn L và Hoàng Văn S đang lắp 02 chiếc cụm màn hình trộm cắp và tiến hành kiểm tra, phát hiện, thu giữ 01 cụm màn hình điện thoại Note20 trong tủ cá nhân của Phạm Văn L và 03 cụm màn hình điện thoại Note20 trong cốp xe ô tô nhãn hiệu Laceti, biển kiểm soát 29A-102.32. Sau đó, Công ty SEV đã trình báo sự việc đến Công an huyện Yên Phong và bàn giao toàn bộ vật chứng thu giữ được cho Công an huyện Yên Phong để điều tra, xử lý.

Qua kiểm tra, 05 chiếc cụm màn hình điện thoại Note20 và 01 cụm màn hình điện thoại S20 thu giữ được đều là hàng đủ điều kiện để xuất xưởng.

Ngày 22/9/2020, Phạm Văn L và Hoàng Văn S đến Công an huyện Yên Phong đầu thú.

Ngày 23/9/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Phong đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Phong định giá số tài sản mà Phạm Văn L và Hoàng Văn S trộm cắp.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 72/KL-ĐG ngày 29/9/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Phong kết luận:

“- 01 cụm màn hình điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 20, hàng thành phẩm, chưa qua sử dụng có giá tại thời điểm xảy ra vụ việc là 2.677.702 đồng.

- 05 cụm màn hình điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 20, hàng thành phẩm, chưa qua sử dụng có giá tại thời điểm xảy ra vụ việc là 13.388.510 đồng.

- 01 cụm màn hình điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S20, hàng thành phẩm, chưa qua sử dụng có giá tại thời điểm xảy ra vụ việc là 3.254.659 đồng.

- 24 cụm màn hình điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S20, hàng thành phẩm, chưa qua sử dụng có giá tại thời điểm xảy ra vụ việc là 78.111.816 đồng”.

Về thu giữ vật chứng:

01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Daewoo Laceti, S màu đen, biển kiểm soát 29A- 102.32 và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, S màu trắng, biển kiểm soát 98C1-128.69 do Công ty SEV giao nộp.

Khi ra đầu thú, Hoàng Văn S giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone XSmax, màu vàng gold, lắp sim số 0865.683.115.

Khi ra đầu thú, Phạm Văn L giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note8, màu đen, lắp sim số 0826.120.888.

Ngày 22/11/2020, Công ty SEV giao nộp 01 chiếc đĩa CD ghi lại hình ảnh camera nghi ngờ việc Phạm Văn L và Hoàng Văn S trộm cắp tài sản của Công ty SEV.

Về xử lý vật chứng:

Ngày 18/11/2020, Cơ quan điều tra trả lại 05 chiếc cụm màn hình điện thoại Samsung Galaxy Note20 và 01 chiếc cụm màn hình điện thoại Samsung Galaxy S20 mà Phạm Văn L và Hoàng Văn S trộm cắp cho anh Trương Tiến Lâm – Phó Phòng an ninh Công ty SEV – người được ủy quyền tham gia tố tụng.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Trương Tiến Lâm đã nhận lại 05 chiếc cụm màn hình điện thoại Note20 và 01 chiếc cụm màn hình điện thoại S20 mà Phạm Văn L và Hoàng Văn S trộm cắp. Đồng thời, anh Lâm yêu cầu các bị cáo phải bồi thường giá trị 23 chiếc cụm màn hình điện thoại S20 chưa thu hồi được theo kết luận định giá tài sản. Ngoài ra, không có yêu cầu gì khác.

Về bồi thường dân sự: Ngày 12/11/2020, Hoàng Văn S giao nộp số tiền 78.111.816 đồng để khắc phục hậu quả.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Cáo trạng số:12/CT-VKSYP ngày 19/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong truy tố Phạm Văn L và Hoàng Văn S về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Các bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố hành vi phạm tội là đúng và khai nhận:

Trong quá trình làm việc tại xưởng Main Công ty SEV, đầu tháng 8/2020, Hoàng Văn S đã trộm cắp 01 chiếc cụm màn hình điện thoại S20 trị giá 3.254.659 đồng của Công ty SEV để lắp vào điện thoại và sử dụng cho bản thân.

Trong khoảng thời gian từ ngày 21/8/2020 đến ngày 02/9/2020, Hoàng Văn S đã nhiều lần trộm cắp tổng số 23 chiếc cụm màn hình điện thoại S20 trong xưởng Main Công ty SEV với tổng trị giá là 74.857.157 đồng (đơn giá 3.254.659 đồng/cụm) và đưa cho Phạm Văn L đi tiêu thụ. Trước khi trộm cắp, S đã bảo L tìm chỗ tiêu thụ và L đã hứa hẹn tiêu thụ cụm màn hình điện thoại S20 do Hoàng Văn S trộm cắp được của Công ty SEV.

Ngoài ra, trong khoảng thời gian từ ngày 15/9/2020 đến ngày 22/9/2020, tại xưởng Main Công ty SEV – Khu công nghiệp Yên Phong, Phạm Văn L đã 03 lần trộm cắp được tổng số 05 chiếc cụm màn hình điện thoại Note20 của Công ty SEV với tổng trị giá là 13.388.510 đồng (đơn giá 2.677.702 đồng/cụm).

Tổng cộng Phạm Văn L đã trộm cắp 05 chiếc cụm màn hình điện thoại Note20 và 23 chiếc cụm màn hình điện thoại S20 với tổng trị giá là 88.245.667 đồng; Hoàng Văn S trộm cắp 24 chiếc cụm màn hình điện thoại S20 với tổng trị giá là 78.111.618 đồng.

Đối với số tiền 23.000.000 đồng L trả trước cho S do S nhờ bán 23 chiếc cụm màn hình trộm cắp được, tại phiên tòa S đồng ý trả lại cho L và được đối trừ trong số tiền S đã nộp tại Cơ quan thi hành án dân sự huyện Yên Phong.

Người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH S: Ông Trương Tiến Lâm vắng mặt nhưng các lời khai tại cơ quan điều tra trình bày ngoài 05 cụm màn hình cơ quan Công an đã trả công ty yêu cầu phải bồi thường giá trị số màn hình điện thoại di động các đối tượng đã lấy trộm hiện không thu hồi được theo kết luận của hội đồng định giá.

Cũng tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã khẳng định:

Trong quá trình làm việc tại xưởng Main Công ty SEV, đầu tháng 8/2020, Hoàng Văn S đã trộm cắp 01 chiếc cụm màn hình điện thoại S20 trị giá 3.254.659 đồng của Công ty SEV để lắp vào điện thoại và sử dụng cho bản thân.

Trong khoảng thời gian từ ngày 21/8/2020 đến ngày 02/9/2020, Hoàng Văn S đã nhiều lần trộm cắp tổng số 23 chiếc cụm màn hình điện thoại S20 trong xưởng Main Công ty SEV với tổng trị giá là 74.857.157 đồng (đơn giá 3.254.659 đồng/cụm) và đưa cho Phạm Văn L đi tiêu thụ. Trước khi trộm cắp, S đã bảo L tìm chỗ tiêu thụ và L đã hứa hẹn tiêu thụ cụm màn hình điện thoại S20 do Hoàng Văn S trộm cắp được của Công ty SEV.

Ngoài ra, trong khoảng thời gian từ ngày 15/9/2020 đến ngày 22/9/2020, tại xưởng Main Công ty SEV – Khu công nghiệp Yên Phong, Phạm Văn L đã 03 lần trộm cắp được tổng số 05 chiếc cụm màn hình điện thoại Note20 của Công ty SEV với tổng trị giá là 13.388.510 đồng (đơn giá 2.677.702 đồng/cụm).

Tổng cộng Phạm Văn L đã trộm cắp 05 chiếc cụm màn hình điện thoại Note20 và 23 chiếc cụm màn hình điện thoại S20 với tổng trị giá là 88.245.667 đồng; Hoàng Văn S trộm cắp 24 chiếc cụm màn hình điện thoại S20 với tổng trị giá là 78.111.618 đồng, nên đã giữ nguyên bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Phạm Văn L và Hoàng Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản". Sau khi phân tích tính chất của vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 54 BLHS.

Xử phạt: Phạm Văn L từ 17 tháng tù đến 19 tháng tù, thời hạn tù tính từ bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/9/2020 đến ngày 01/10/2020.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 54 BLHS.

Xử phạt: Hoàng Văn S từ 15 tháng tù đến 17 tháng tù, thời hạn tù tính từ bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/9/2020 đến ngày 01/10/2020.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho TNHH S số tiền 74.857.157 đồng (bị cáo L nộp 38.000.000 đồng, bị cáo S nộp 36.857.157 đồng). Xác nhận bị cáo Hoàng Văn S đã nộp 78.111.816 đồng khắc phục hậu quả theo biên lai thu số AA/2020/0001032 ngày 12/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Phong. Phạm Văn L đã nộp 15.000.000 đồng khắc phục hậu quả theo biên lai thu số AA/2020/0001086 ngày 31/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Phong.

Đối với số tiền 23.000.000 đồng L trả trước cho S do S nhờ bán 23 chiếc cụm màn hình trộm cắp được, tại phiên tòa S đồng ý trả lại cho L và được đối trừ trong số tiền S đã nộp tại Cơ quan thi hành án dân sự huyện Yên Phong. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự thỏa thuận trên của các bị cáo. Hoàn trả bị cáo Hoàng Văn S 18.254.461đồng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về xử lý vật chứng:

01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy Note 20, không có cụm màn hình và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy S20, không có cụm màn hình và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy Note 8 màu đen, lắp sim số 0826.120.888, các tài sản trên là những công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội vì vậy cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Trả lại bị cáo S 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax, màu vàng Gold, lắp sim số 0865.683.115 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Lưu theo hồ sơ vụ án 01 đĩa CD tài liệu ghi âm Viện kiểm sát hỏi cung các bị can và 01 đĩa CD ghi lại hình ảnh các bị cáo đi lại trong xưởng sản xuất trong thời gian các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn S đề nghị: Bị cáo S sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại, nên đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo ra đầu thú, là người dân tộc thiểu số và thuộc vùng kinh tế có hoàn cảnh khó khăn, có ông nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, vì vậy đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo S có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nhân thân tốt, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tải Điều 54 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo không tham gia tranh luận, đối đáp với đại diện Viện kiểm sát, mà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Yên Phong, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trên đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận:

Trong quá trình làm việc tại xưởng Main Công ty SEV, đầu tháng 8/2020, Hoàng Văn S đã trộm cắp 01 chiếc cụm màn hình điện thoại S20 trị giá 3.254.659 đồng của Công ty SEV để lắp vào điện thoại và sử dụng cho bản thân.

Trong khoảng thời gian từ ngày 21/8/2020 đến ngày 02/9/2020, Hoàng Văn S đã nhiều lần trộm cắp tổng số 23 chiếc cụm màn hình điện thoại S20 trong xưởng Main Công ty SEV với tổng trị giá là 74.857.157 đồng (đơn giá 3.254.659 đồng/cụm) và đưa cho Phạm Văn L đi tiêu thụ. Trước khi trộm cắp, S đã bảo L tìm chỗ tiêu thụ và L đã hứa hẹn tiêu thụ cụm màn hình điện thoại S20 do Hoàng Văn S trộm cắp được của Công ty SEV.

Ngoài ra, trong khoảng thời gian từ ngày 15/9/2020 đến ngày 22/9/2020, tại xưởng Main Công ty SEV – Khu công nghiệp Yên Phong, Phạm Văn L đã 03 lần trộm cắp được tổng số 05 chiếc cụm màn hình điện thoại Note20 của Công ty SEV với tổng trị giá là 13.388.510 đồng (đơn giá 2.677.702 đồng/cụm).

Tổng cộng Phạm Văn L đã trộm cắp 05 chiếc cụm màn hình điện thoại Note20 và 23 chiếc cụm màn hình điện thoại S20 với tổng trị giá là 88.245.667 đồng; Hoàng Văn S trộm cắp 24 chiếc cụm màn hình điện thoại S20 với tổng trị giá là 78.111.618 đồng. Do vậy, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn L và Hoàng Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội ra đầu thú và khắc phục hậu quả nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo S là người dân tộc thiểu số và thuộc vùng kinh tế có hoàn cảnh khó khăn, có ông nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của chủ sở hữu được pháp luật bảo vệ , mà còn gây mất trật tự trị an an toàn xã hội ở địa phương, nên cần được xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo và giáo dục các bị cáo.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy: Các bị cáo là đồng phạm giản đơn không có sự bàn bạc, phân công … nên có vai trò ngang nhau. Tuy nhiên, bị cáo L chiếm đoạt tài sản có giá trị nhiều hơn nên phải chịu mức hình phạt cao hơn. Các bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 BLHS, Hội đồng xét xử xét thấy có thể cho các bị cáo được hưởng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt trong khung hình phạt liền kề cũng đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo.

Ngoài hình phạt chính xét thấy các bị cáo không có công việc ổn định nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. [3] Về xử lý vật chứng:

01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy Note 20, không có cụm màn hình và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy S20, không có cụm màn hình và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy Note 8 màu đen, lắp sim số 0826.120.888, các tài sản trên là những công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội vì vậy cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Trả lại bị cáo S 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax, màu vàng Gold, lắp sim số 0865.683.115, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Lưu theo hồ sơ vụ án 01 đĩa CD tài liệu ghi âm Viện kiểm sát hỏi cung các bị can và 01 đĩa CD ghi lại hình ảnh các bị cáo đi lại trong xưởng sản xuất trong thời gian các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Buộc các bị cáo phải bồi thường cho TNHH S số tiền 74.857.157 đồng (bị cáo L nộp 38.000.000 đồng, bị cáo S nộp 36.857.157 đồng). Xác nhận bị cáo Hoàng Văn S đã nộp 78.111.816 đồng khắc phục hậu quả theo biên lai thu số AA/2020/0001032 ngày 12/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Phong; Phạm Văn L đã nộp 15.000.000 đồng khắc phục hậu quả theo biên lai thu số AA/2020/0001086 ngày 31/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Phong và 22.428.278 đồng trong số 78.111.816 đồng bị cáo S đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Phong.

Đối với số tiền 23.000.000 đồng L trả trước cho S do S nhờ bán 23 chiếc cụm màn hình trộm cắp được, tại phiên tòa S đồng ý trả lại cho L và được đối trừ trong số tiền 78.111.816 đồng S đã nộp tại Cơ quan thi hành án dân sự huyện Yên Phong. Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận sự thỏa thuận trên của các bị cáo.

Hoàn trả bị cáo Hoàng Văn S 18.254.461 đồng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[5] Liên quan trong vụ án có:

Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Deawoo Laceti, biển kiểm soát 29A-102.32 và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 98C1-128.69: Ông Hoàng Văn Sâm và anh Phạm Văn Nam không biết việc S và L dùng những chiếc xe trên để cất giấu tài sản trộm cắp nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với ông Sâm và anh Nam là phù hợp. Ngày 06/11/2020, Cơ quan điều tra trả lại chiếc xe ô tô nhãn hiệu Deawoo Laceti, biển kiểm soát 29A-102.32 cho anh Phạm Văn Nam. Ngày 07/11/2020, Cơ quan điều tra trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98C1-128.69 cho ông Hoàng Văn Sâm là đúng pháp luật.

Đối với đối tượng đã mua 23 cụm chiếc cụm màn hình điện thoại Samsung Galaxy S20 của Phạm Văn L: L không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người này. L chỉ liên lạc với người này qua điện thoại, hiện L không xác định được số điện thoại và không nhớ nick zalo của người này nên Cơ quan đã tách tài liệu liên quan để tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là đúng pháp luật.

[6] Về án phí:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Phạm Văn L và Hoàng Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Phạm Văn L 17 (mười bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/9/2020 đến ngày 01/10/2020.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Hoàng Văn S 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/9/2020 đến ngày 01/10/2020.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự.

Buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho Công ty TNHH S số tiền 74.857.157 đồng (bảy mươi tư triệu tám trăm năm bảy ngàn một trăm năm bảy đồng), bị cáo L nộp 38.000.000 đồng, bị cáo S nộp 36.857.157 đồng. Xác nhận bị cáo Hoàng Văn S đã tự nguyện nộp 78.111.816 đồng khắc phục hậu quả theo biên lai thu số AA/2020/0001032 ngày 12/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Phong và Phạm Văn L đã nộp 15.000.000 đồng khắc phục hậu quả theo biên lai thu số AA/2020/0001086 ngày 31/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Phong.

Hoàn trả bị cáo Hoàng Văn S 18.254.461 đồng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy Note 20, không có cụm màn hình; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy S20, không có cụm màn hình và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy Note 8 màu đen, lắp sim số 0826.120.888.

Trả lại bị cáo S 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax, màu vàng Gold, lắp sim số 0865.683.115, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Lưu theo hồ sơ vụ án 01 đĩa CD tài liệu ghi âm Viện kiểm sát hỏi cung các bị can và 01 đĩa CD ghi lại hình ảnh các bị cáo đi lại trong xưởng sản xuất trong thời gian các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Toà án.

Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

149
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội trộm cắp tài sản số 43/2021/HSST

Số hiệu:43/2021/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Phong - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:07/04/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về