Bản án về tội trộm cắp tài sản số 424/2023/HS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 424/2023/HS-PT NGÀY 08/12/2023 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 08 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 373/2023/HSPT ngày 16/10/2023 đối với bị cáo Bùi Tiến S, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 200/2023/HS-ST ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo:

Bùi Tiến S, sinh năm 1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: H đường Đ, Phường O, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Như trên; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Bùi Văn D và bà Vũ Thị T; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 30/10/2021 bị Công an Phường 15, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 750.000 đồng theo Quyết định số 0007322/QĐ- XPHC. Bị cáo đã đóng phạt xong ngày 08/11/2021.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/01/2023 đến ngày 13/01/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa;

Những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo nên không triệu tập.

Người bào chữa: Luật sư Nguyễn Văn Q và Luật sư Nguyễn Thị Ngọc H, luật sư thuộc đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 03 giờ ngày 03/01/2023, Sử Hồng Đ và Bùi Tiến S rủ nhau đi trộm cắp tài sản. Bùi Tiến S điều khiển xe mô tô biển số 55P3-42xx chở Sử Hồng Đ đến công trình nhà không số trên đường L, Tổ A, Ấp B, xã P, huyện C. Tại đây, Sử Hồng Đ đi vào trong căn nhà trên lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Redmi 9T màu xanh của bà Lê Tuyết N. Sau đó, Bùi Tiến S tiếp tục chở Sử Hồng Đ đến nhà không số, đường L, Tổ D, Ấp B, xã P, huyện C, tại đây Sử Hồng Đ dùng kìm cắt lưới B40 và đi vào trong nhà lấy trộm 01 điện thoại di động màu đen kiểu dáng iPhone 13 (Trung Quốc) của ông Đặng Văn Phong. Sau đó, Bùi Tiến S và Sử Hồng Đ tiếp tục lưu thông trên các tuyến đường thuộc quận Bình Tân để tìm nơi bán điện thoại di động, còn đối với cái kìm cắt sắt Sử Hồng Đ đã vứt bỏ trên đường đi về. Đến khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, khi Bùi Tiến S và Sử Hồng Đ đang lưu thông trên đoạn đường Tỉnh Lộ J, phường T, quận T thì bị Tổ Hình sự đặc nhiệm thuộc Công an quận Bình Tân tuần tra phát hiện Bùi Tiến S và Sử Hồng Đ có biểu hiện nghi vấn tiến hành kiểm tra thu giữ được tang vật là 02 chiếc điện thoại và phát hiện Sử Hồng Đ dương tính với chất ma túy nên đưa về Công an phường Tân Tạo, quận Bình Tân làm việc. Tại cơ quan Công an, Sử Hồng Đ và Bùi Tiến S đã khai nhận thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên. Cơ quan điều tra Công an quận Bình Tân đã đưa Sử Hồng Đ và Bùi Tiến S đi chỉ địa điểm nơi xảy ra vụ trộm cắp tài sản của bà Lê Tuyết N và ông Đặng Văn P. Sau khi xác định địa điểm thực hiện hành vi trộm cắp tại xã Phong Phú nên Cơ quan CSĐT Công an quận Bình Tân đã lập hồ sơ chuyển cho Công an xã Phong Phú, huyện Bình Chánh để truy xét.

Ngoài ra, Sử Hồng Đ và Bùi Tiến S khai nhận trong ngày 03/01/2023, có lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Realme màu xanh tại khu vực xã P, huyện C. Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Bình Tân đã dẫn Sử Hồng Đ và Bùi Tiến S đi xác định nơi xảy ra vụ trộm chiếc điện thoại Realme, tuy nhiên chưa tìm được bị hại, không xác định được địa điểm trộm cắp chiếc điện thoại di động hiệu Realme màu xanh.

Sau đó, Công an xã Phong Phú tiến hành giao hồ sơ, vật chứng cùng Sử Hồng Đvà Bùi Tiến S đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh thụ lý theo thẩm quyền.

Ngày 12/01/2023, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Bình Chánh có Kết luận định tài sản số: 91/KL-HĐĐGTS kết luận: 01 điện thoại di động Redmi 9T trị giá 2.100.000 đồng và 01 điện thoại di động Trung Quốc, kiểu dáng Iphone 13 Promax trị giá 2.250.000 đồng. Tổng tài sản bị chiếm đoạt là 4.350.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

- 01 điện thoại di động Redmi 9T màu xanh; 01 điện thoại di động Trung Quốc, kiểu dáng Iphone 13 Promax. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã ra Quyết định trao trả cho bà Lê Tuyết N và ông Đặng Văn P vào ngày 18/3/2023.

- 01 xe mô tô hiệu YAMAHA Sirius màu đen, bạc; biển số 55P3-42xx, số khung: Y-055197; số máy: 5B96-055165.

- Một quần lửng Jean màu xanh, một áo thun tay ngắn màu xanh đen, một áo khoác tay dài màu xanh (quần áo của Bùi Tiến S mặc trong khi thực hiện hành vi phạm tội).

- Một quần lửng Jean màu xanh, một áo khoác tay dài màu vàng (quần áo của Sử Hồng Đmặc trong khi thực hiện hành vi phạm tội).

Về dân sự: Bà Lê Tuyết N và ông Đặng Văn P đã nhận lại tài sản bị lấy trộm nên không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 200/2023/HS-ST ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, đã:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Bùi Tiến S:

Xử phạt bị cáo Bùi Tiến S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/01/2023 đến 13/01/2023.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn xử lý về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 05/9/2023 bị cáo Bùi Tiến S kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Bùi Tiến S giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc định giá tài sản là 02 chiếc điện thoại, theo bị có mức định giá như vậy là quá cao.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố sau khi tóm tắt nội dung vụ án, phân tích về tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết định khung và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đã kết luận, đủ căn cứ xác định bản án hình sự sơ thẩm xét xử: Bị cáo Bùi Tiến S, về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội không oan;

Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét cho bị cáo Bùi Tiến S các tình tiết giảm nhẹ như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo không xuất trình thêm các tình tiết giảm nhẹ nào khác. Nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại việc định giá 02 chiếc điện thoại mà bị cáo trộm cắp, vì giá trị thực tế của 02 chiếc điện thoại này thấp hơn mức đã được định giá, đồng thời đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Bùi Tiến S khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với bản án sơ thẩm đã nêu, bị cáo thống nhất với bào chữa của luật sư; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội chăm sóc gia đình, làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Bùi Tiến S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử. Lời khai của bị cáo p h ù h ợp v ới các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đã có đủ cơ sở xác định:

Vào ngày 03/01/2023, các bị cáo Sử Hồng Đ, Bùi Tiến S đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động Redmi 9T trị giá 2.100.000 đồng của bà Lê Tuyết N và 01 điện thoại di động Trung Quốc, kiểu dáng Iphone 13 Promax trị giá 2.250.000 đồng của ông Đặng Văn P tại Ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Với hành vi trên, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử bị cáo Bùi Tiến S về tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Bùi Tiến S làm đơn kháng cáo, đơn kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định là hợp lệ Xét kháng cáo của các bị cáo, khi xém xét hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xét đầy đủ tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Đồng thời đã áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khải báo, ăn năn hối cải; có thời gian tham gia quân đội, theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo phạm tội “02 lần trở lên” thuộc trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều g khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Từ đó, xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù là phù hợp, đã xem xét toàn diện.

Việc bị cáo và Luật sư đề nghị định giá lại tài sản là không có căn cứ, vì việc định giá đã được thực hiện theo đúng trình tự quy định của pháp luật, sau khi định giá đã gửi kết quả định giá cho bị cáo, bị cáo không có khiếu nại gì về kết quả định giá.

Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo Bùi Tiến S không cung cấp thêm tình tiết mới. Hội đồng xét xử xét thấy mức án mà Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Lập luận nêu trên cũng là quan điểm của Hội đồng xét xử về ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa.

[2] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[3] Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định Vì các lẽ nêu trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Tiến S, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 200/2023/HSST ngày 29- 8- 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bùi Tiến S:

Xử phạt bị cáo Bùi Tiến S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/01/2023 đến 13/01/2023.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

72
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội trộm cắp tài sản số 424/2023/HS-PT

Số hiệu:424/2023/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:08/12/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về