Bản án về tội trộm cắp tài sản số 42/2022/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 42/2022/HS-ST NGÀY 24/11/2022 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 24 tháng 11 năm 2022, Toà án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến tại 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại phòng xét xử Toà án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn gồm: Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, thư ký Tòa án, bị hại và điểm cầu thành phần tại nhà tạm giữ Công an huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn gồm có: Bị cáo, Kiểm sát viên, Thư ký, cán bộ chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ đối với vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2022/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 19 tháng 6 năm 1986 tại huyện V1, tỉnh Bắc Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã Q, huyện V1, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1959; vợ: Đặng Thị M, sinh năm 1984; con: Có 01 người con sinh năm 2011; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 29/8/2011 bị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự, xử phạt 24 tháng tù; ngày 30/9/2013 Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự, xử phạt 30 tháng tù, đã thi hành xong quyết định của hai bản án và đã đương nhiên được xóa án tích.

- Bị hại: Chị Kiềng Thúy K, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn B, xã V2, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 13 tháng 9 năm 2022, bị cáo Nguyễn Văn T đón xe khách từ huyện V1, tỉnh Bắc Giang theo quốc lộ 1A hướng đi Lạng Sơn, mục đích trên đường đi nếu thấy tài sản của người dân sơ hở sẽ trộm cắp bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Khi đi, Nguyễn Văn T mang theo một vỏ hộp acquy dongnai bên trong có 01 chiếc kích thủy lực, 04 cờ lê với hai mục đích là sử dụng vào việc trộm cắp tài sản hoặc bán lấy tiền mua ma túy. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, khi xe ô tô đi đến khu vực cầu S, quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn B, xã V2, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, Nguyễn Văn T phát hiện xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE S, màu đen xám, biển kiểm soát 12K5-xxxx của chị Kiềng Thúy K dựng ở cạnh đường bên phải hướng Hà Nội - Lạng Sơn không có ai trông giữ, chìa vẫn cắm ở ổ khóa xe thì xuống xe, đi đến vị trí chiếc xe mô tô, đặt vỏ hộp acquy lên giá để hàng của xe, lấy mũ bảo hiểm ở móc treo đồ bên phải đầu xe đội lên đầu, sau đó ngồi lên xe, vặn khóa nổ máy điều khiển xe đi theo quốc lộ 1A hướng Lạng Sơn - Hà Nội. Chị Kiềng Thúy K đang làm cỏ ở dưới vườn cách vị trí để xe khoảng 5m nghe thấy tiếng xe nổ, lên kiểm tra thì thấy bị cáo Nguyễn Văn T điều khiển xe đi về hướng Hà Nội, liền gọi điện nhờ người trình báo Công an huyện Chi Lăng. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, khi bị Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô trộm cắp được đến Km 62+700 quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn thì bị lực lượng Công an bắt giữ người cùng tang vật. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Bản kết luận định giá tài sản số: 31/KL-HĐĐGTS ngày 14/9/2022 của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Chi Lăng, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, màu sơn đen xám, biển kiểm soát 12K5-xxxx, trị giá 4.833.000 đồng (bốn triệu tám trăm ba mươi ba nghìn đồng).

Ngày 22 tháng 9 năm 2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chi Lăng đã trả lại cho chủ sở hữu chị Kiềng Thúy K xe mô tô biển kiểm soát 12K5- xxxx; 01 mũ bảo hiểm màu trắng; 01 đăng ký xe mô tô số 027688 mang tên Kiềng Minh T; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện. Chị Kiềng Thúy K không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi thường về mặt dân sự.

Các vật chứng gồm: 01 vỏ hộp acquy dongnai bên trong có 01 kích thủy lực màu đỏ; 01 cờ lê 12; 01 cờ lê 13; 02 cờ lê 14.

Cáo trạng số: 42/CT-VKSCL ngày 01 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T khẳng định bị truy tố về tội Trộm cắp tài sản như nội dung của Cáo trạng là đúng, không oan, không sai. Bị cáo khai, do nghiện ma túy nên đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác để mua ma túy như đã khai tại Cơ quan điều tra.

Bị hại Chị Kiềng Thúy K khai: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12K5- xxxx, đứng tên bố chị là ông Kiềng Minh T (đã chết năm 2010), gia đình đã họp và thống nhất giao cho chị được quyền sở hữu, sử dụng. Ngày 13 tháng 9 năm 2022, chị để xe ở cạnh đường và đã bị người khác trộm cắp. Chị đã được nhận lại chiếc xe cùng toàn bộ giấy tờ và không yêu cầu gì về phần dân sự.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, đánh giá về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu nên không đề nghị xem xét giải quyết.

- Về vật chứng: Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đã trả cho Chị Kiềng Thúy K tài sản bị trộm cắp. Đề nghị tịch thu tiêu hủy những vật chứng của bị cáo gồm: 01 vỏ hộp acquy dongnai bên trong có 01 kích thủy lực màu đỏ; 01 cờ lê 12; 01 cờ lê 13; 02 cờ lê 14.

Phần tranh luận: Bị cáo Nguyễn Văn T, bị hại Không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 13 tháng 9 năm 2022, tại địa phận thôn B, xã V2, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu để chiếc xe mô tô ở cạnh đường, chìa vẫn cắm ở ổ khóa xe, vắng người qua lại, bị cáo Nguyễn Văn T đã thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE S, màu đen xám, biển kiểm soát 12K5-xxxx, trị giá 4.833.000 đồng (bốn triệu tám trăm ba mươi ba nghìn đồng) của chị Kiềng Thúy K.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi đó gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự của địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có thể chất phát triển bình thường, có đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích muốn có tiền để sử dụng ma túy nên bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội.

[4] Từ những nhận định tại đoạn [2], [3], Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số: 42/CT- VKSCL ngày 01 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Văn T theo tội danh và điều khoản trong Bộ luật Hình sự như trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[5] Về nhân thân; tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị xét xử hai lần về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy như đã nêu tại phần đầu của bản án, tuy đã được xóa án tích nhưng xác định là người có nhân thân xấu. Bị cáo đã khai rõ hành vi phạm tội của bản thân, tại phiên tòa thể hiện có lỗi với bị hại và nói lời xin lỗi nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo vì không có tài sản để đảm bảo cho việc thi hành án, việc này phù hợp với kết quả xác minh của Cơ quan điều tra Công an huyện Chi Lăng.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Chị Kiềng Thúy K đã được trả lại xe mô tô cùng các giấy tờ xe và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe bị trộm cắp cho chủ sở hữu Chị Kiềng Thúy K là có căn cứ. Đối với 01 vỏ hộp acquy dongnai bên trong có 01 kích thủy lực màu đỏ; 01 cờ lê 12; 01 cờ lê 13; 02 cờ lê 14, xác định thuộc quyền sở hữu của bị cáo, không sử dụng vào hành vi trộm cắp tài sản trong vụ án này, nhưng bị cáo yêu cầu tịch thu tiêu hủy vì không còn giá trị sử dụng, xét thấy yêu cầu của bị cáo là có căn cứ nên cần chấp nhận.

[9] Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị về tội danh, về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T, về xử lý vật chứng là có căn cứ.

[10] Về án phí: Do bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 50, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; các Điều 260, 262, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam, ngày 13 tháng 9 năm 2022.

3. Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 vỏ hộp acquy dongnai bên trong có 01 kích thủy lực màu đỏ; 01 cờ lê 12; 01 cờ lê 13; 02 cờ lê 14.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại kho Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Công an huyện Chi Lăng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện C ngày 02 tháng 11 năm 2022).

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn T, bị hại Chị Kiềng Thúy K có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

81
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội trộm cắp tài sản số 42/2022/HS-ST

Số hiệu:42/2022/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chi Lăng - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:24/11/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về