TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 397/2023/HS-ST NGÀY 23/08/2023 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Ngày 23 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 539/2023/HSST ngày 18 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 3074/2023/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 7 năm 2023, đối với bị cáo:
Lê Đức H, sinh năm 2000 tại Ninh Thuận; nơi thường trú: thôn P, xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nơi ở: 168 H, Phường 12, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Huỳnh Thị Ngọc T; chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giam từ ngày 21/8/2022, có mặt.
- Bị hại:
1. Công ty TNHH Y, địa chỉ trụ sở: 27B/8 N, phường Đ, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: ông Otoguro F, chức vụ Tổng giám đốc và ông Nguyễn Ngọc Q, chức vụ Phó tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: bà Nguyễn Thúy H làm đại diện ủy quyền (theo Giấy ủy quyền số: YVN/POA/2023/03 ngày 10/5/2023), có mặt.
2. Ông Đinh Trường H, sinh năm 1978; địa chỉ: 58/13/5, đường số 9, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
3. Ông Kobayashi T, sinh năm 1976; địa chỉ: 18A/26/28 N, phường Đ, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
4. Ông Trần Văn T, sinh năm 1996; địa chỉ: 27B/8 N, phường Đ, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
5. Công ty TNHH Dịch vụ và Thương mại M, địa chỉ trụ sở: 20 B, phường N, quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ chi nhánh: 202 L, Phường 9, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: bà Lưu Thị Tuyết H, chức vụ Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: bà Trương Thị Mỹ T làm đại diện ủy quyền (theo Giấy ủy quyền lập ngày 15/8/2023), có mặt.
6. Ông Nguyễn Trung N, sinh năm 1989; địa chỉ: 95 đường 52, khu dân cư V, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
7. Ông Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1979; địa chỉ: 40 T, Phường 13, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Lê Trung H1, sinh năm 1990; địa chỉ: số 9, đường số 8, khu phố 5, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
2. Ông Huỳnh Xuân A, sinh năm 1977; địa chỉ: 226 V, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có việc làm ổn định, cần tiền tiêu xài nên Lê Đức H1 nảy sinh ý định tìm kiếm, đột nhập vào các trụ sở, công ty và các hộ dân có sơ hở, không có người trông coi nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: vào khoảng 03 giờ 00 phút ngày 21/6/2022, Lê Đức H đi bộ đến giao lộ đường N, phường Đ, Quận M phát hiện tòa nhà địa chỉ số 27B N, phường Đ, Quận M không có người trông coi, nên H đột nhập vào tòa nhà này, đi theo lối cầu thang thoát hiểm lên lầu 1, phát hiện cửa kính văn phòng Công ty trách nhiệm hữu hạn Y Việt Nam (gọi tắt Công ty Y) không khóa cửa và không có người trông coi, H lẻn vào trong văn phòng Công ty lục tìm tài sản, nhìn thấy trên các bàn làm việc có để 03 chiếc ba lô và 01 túi xách nên H lấy trộm 09 laptop hiệu Dell Inspiron, 01 laptop hiệu Lenovo Legion, 01 máy laptop hiệu Dell Precision, 01 laptop hiệu Toshiba và 02 laptop hiệu Asus tổng cộng 14 cái rồi bỏ các máy laptop này vào trong 03 balo và 01 túi xách mang trên vai và cầm trên 02 tay đi trở ra ngoài theo lối cầu thang thoát hiểm. H dùng điện thoại di động đặt Grap Bike (không nhớ rõ biển số xe và tên người chạy xe) đi về thành phố Thủ Đức định thuê phòng khách sạn ngủ nhưng nhân viên khách sạn (không nhớ tên khách sạn và lai lịch) báo đã hết phòng nên H mang tài sản trộm cắp được đến một căn nhà hoang gần khu vực phường Bình Thọ, thành phố Thủ Đức cất giấu. Sau đó, H đón xe ôm trở về phòng trọ của mình tại số 168 H, Phường 12, quận T. Khoảng 09 giờ sáng cùng ngày, H gặp người bạn tên Trần Trung Kiên, H mượn xe mô tô hiệu SH biển số 59A3-X của K nói đi có việc cần. Sau đó, H điều khiển xe đến căn nhà hoang lấy 02 máy laptop (không nhớ rõ nhãn hiệu, đặc điểm) mang đến cửa hàng laptop Hiếu Nguyễn địa chỉ số 09 đường số 8, phường Trường Thọ, thành phố Thủ Đức gặp anh Lê Trung H1 (chủ cửa hàng), H nói với anh H1 cài đặt Windows cho 02 máy laptop vì máy bị lỗi. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, H cũng chạy xe mô tô SH biển số 59A3-X trở lại gặp anh H1 nhận 02 máy laptop và trả tiền công cài đặt 250.000 đồng qua Ví điện tử Momo từ tài khoản Ngân hàng Vietcombank số 038100043571 tên Lê Trung H1. Sau đó, H trả xe cho Kiên trên đường Lạc Long Quân, quận Tân Bình, rồi H mang 2 máy tính về cất giấu tại phòng trọ. Đến 14 giờ chiều cùng ngày, H mang 02 máy laptop đón xe ôm quay lại cửa hàng của anh H1 để bán. Anh H1 mua 02 máy với giá 5.000.000 đồng, đưa cho H số tiền 3.300.000 đồng và chuyển vào tài khoản số 060221169381 Ngân hàng Sacombank của H số tiền 1.700.000 đồng. Cũng với cách thức nhờ anh H1 cài đặt lại máy rồi bán luôn cho cửa hàng ngày 23/6/2022, H bán lại cho anh H1 03 máy laptop với giá 10.000.000 đồng trả bằng tiền mặt. Ngày 25/6/2022, H bán cho anh H1 thêm 03 máy với giá 7.000.000 đồng trả tiền mặt cho cho H 4.000.000 đồng và chuyển vào tài khoản số 060221169381 Ngân hàng Sacombank của H 3.000.000 đồng. Ngày 27/6/2022, H bán 03 máy laptop cho anh H1 với giá 4.000.000 đồng trả bằng tiền mặt. Lần cuối cùng, ngày 29/6/2022, H mang 03 máy laptop còn lại bán cho anh H1 với giá 4.000.000 đồng, trả bằng tiền mặt và vứt 03 chiếc ba lô cùng túi xách bằng vải ở thùng rác ven đường không rõ địa chỉ nên không thu hồi được. Lê Đức H đã 05 lần mang tổng cộng 14 máy laptop gồm các hiệu Dell, Asus, Toshiba, Lenovo bán cho anh H1 với tổng số tiền 30.000.000 đồng. Anh H1 chuyển tiền vào tài khoản của H 4.700.000 đồng và đưa tiền mặt cho H tổng cộng 25.300.000 đồng. Số tiền này H đã tiêu xài hết.
Vụ thứ hai: vào khoảng 02 giờ ngày 19/8/2022, H đặt xe Grab Car (không rõ biển số xe và tên tài xế) đi từ phòng trọ của H tại địa chỉ số 168 H Hoa Thám, Phường 12, quận Tân Bình đến đường Trương Định, Phường 9, Quận 3. Tại đây, H đi bộ từ đường Trương Định đến đường Lý Chính Thắng. Khi đến địa chỉ 202 Lý Chính Thắng, Phường 9, Quận 3 thuộc Công ty TNHH Dịch vụ và Thương mại M, H đứng lại quan sát thì nhìn thấy ông Phạm H Lâm và ông Hồ Thanh Tâm (nhân viên bảo vệ) ngủ ở 02 bên trái và phải trước Công ty. H leo hàng rào vào phía trong khuôn viên của Công ty rồi vào bên trong, theo lối cầu thang bộ đi lên tầng 1, H mở cửa đi vào trong phòng lục tìm xung quanh và lấy trộm được 11 máy laptop các loại (chỉ nhớ các máy laptop có nhãn hiệu HP, Lenovo, Dell, Fujisu, nhưng không rõ đời máy và đặc điểm máy); H lấy chiếc ba lô và chiếc cặp xách có sẵn ở trong phòng rồi để 05 máy vào chiếc cặp xách và để 06 máy laptop vào chiếc ba lô. Sau đó, H mang các tài sản trộm cắp được theo lối cầu thang bộ đi xuống dưới khuôn viên Công ty, leo hàng rào ra ngoài, rời khỏi hiện trường. H đón xe Grab Car mang theo 11 máy laptop vừa trộm cắp đến địa chỉ số 24 đường số 5, phường Linh Chiểu, thành phố Thủ Đức để chơi game. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, H đón xe Grab Car đi đến cửa hàng Việt Quỳnh, địa chỉ số 226 Võ Văn Ngân, phường Bình Thọ, thành phố Thủ Đức, bán 11 máy laptop các loại cho ông Huỳnh Xuân A với giá 26.000.000 đồng. H nhận tiền mặt rồi trên đường về vứt bỏ ba lô và túi xách để phi tang. H dùng tiền bán máy laptop có được mua 01 máy Ipad Pro tại một cửa hàng ở thành phố Thủ Đức (không nhớ rõ địa chỉ), với giá 26.000.000 đồng. Đến ngày 20/8/2022, Công an Quận 3 mời H về trụ sở để làm việc, H thừa nhận toàn bộ sự việc thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại địa chỉ số 202 Lý Chính Thắng, Phường 9, Quận 3 vào ngày 19/8/2022 và tại Công ty Y vào ngày 21/6/2022, 1/14 máy laptop mà H đã bán cho cửa hàng laptop H1. Đồng thời, Công an Quận 3 đưa H đến cửa hàng của ông Xuân Anh thu hồi được 11 máy laptop và Công an Quận 1 cũng đã thu hồi được như nội dung nêu trên.
Theo kết luận số 233/KL-HĐĐGTS ngày 27/8/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự Quận 1:
+ 01 máy laptop hiệu Asus K55A-3230/4G có giá 7.250.000 đồng.
+ 01 máy laptop hiệu Asus X550 có giá 5.000.000 đồng.
+ 03 máy laptop cùng loại, hiệu Dell Inspiron 15 Intel Core i5 có giá tổng cộng 25.500.000 đồng.
+ 06 máy laptop cùng loại, hiệu Dell Inspiron 3593 Intel Core i5 có giá tổng cộng 54.000.000 đồng.
+ 01 máy laptop hiệu Lenovo Legion có giá 12.500.000 đồng.
+ 01 máy laptop hiệu Dell Precision 7510 có giá 11.000.000 đồng.
+ 01 máy laptop hiệu Toshiba Satelitte L50-B205BX có giá 5.500.000 đồng. Tổng cộng là 120.750.000 đồng.
- Ngày 25/8/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 3 có Kết luận định giá tài sản số 96/KL-HĐĐGTS, đối với 11 máy laptop mất trộm vào ngày 19/8/2022, kết luận:
+ 01 máy laptop hiệu HP Envy 240GB có giá 12.000.000 đồng.
+ 01 máy laptop hiệu HP Pavillion 14 512GB có giá 10.000.000 đồng.
+ 01 máy laptop hiệu HP Pavillion 14 512GB có giá 10.000.000 đồng.
+ 01 máy laptop hiệu HP Pavillion 14 240GB có giá 6.000.000 đồng.
+ 01 máy laptop hiệu HP 15 256GB có giá 9.000.000 đồng.
+ 01 máy laptop hiệu HP 240 G8, 512GB có giá 8.500.000 đồng.
+ 01 máy laptop hiệu DELL Vostro 3467, 240GB có giá 5.000.000 đồng.
+ 01 máy laptop hiệu DELL Vostro 3468, 240GB có giá 6.000.000 đồng.
đồng.
+ 01 máy laptop hiệu HP 348 G4, 500GB có giá 10.000.000 đồng.
+ 01 máy laptop hiệu LENOVO Thinkpad X1 256GB có giá 8.000.000 + 01 máy laptop hiệu Fujitsu có giá 30.000.000 đồng. Tổng cộng là 114.500.000 đồng.
Vật chứng thu giữ: có Bản kê vật chứng kèm theo Cáo trạng. Trách nhiệm dân sự:
- Đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH Y Việt Nam là bà Nguyễn Thúy Hà yêu cầu Lê Đức H1 bồi thường cho Công ty Y Việt Nam số tiền 91.750.000 đồng. Đối với 03 cái balo và 01 túi xách như nêu trên, do giá trị tài sản thấp, không đáng kể, Công ty không có hóa đơn, chứng từ nên bà Hà từ chối việc định giá tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì về 03 cái balo và 01 túi xách nêu trên, cam kết không khiếu nại, thắc mắc gì về sau.
- Ông Đinh Trường H yêu cầu bị cáo H bồi thường số tiền 11.000.000 đồng cho máy tính xách tay hiệu Dell Precision 7510.
- Ông Kobayashi T yêu cầu bị cáo H bồi thường số tiền 5.500.000 đồng cho máy tính xách tay hiệu Toshiba Satelitte L50-B205BX bị chiếm đoạt.
- Ông Trần Văn Tuấn đã được nhận lại máy tính hiệu Lenovo Legion (Y530-15ICH, i5 8300H, 8GB DDR4), màu đen. Qua kiểm tra máy không bị hư hỏng gì nên không có yêu cầu bồi thường gì, cam kết không khiếu nại hay thắc mắc gì về sau.
- Công ty TNHH Dịch vụ và Thương mại M đã được nhận lại 09 máy laptop các loại bị cáo H trộm cắp vào ngày 19/8/2022 nên không có yêu cầu bồi thường gì. Đối với 01 ba lô và 01 cặp xách H lấy tại Công ty do giá trị nhỏ nên không yêu cầu bồi thường.
- Ông Nguyễn Trung N và ông Nguyễn Tấn Đ đã được nhận lại máy laptop nên không có yêu cầu bồi thường, cam kết không khiếu nại hay thắc mắc gì về sau.
Tại bản Cáo trạng số 354/CT-VKS-P2 ngày 03/7/2023, Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị can Lê Đức H có lý lịch và hành vi phạm tội nêu trên, về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Phần tranh tụng tại phiên tòa:
- Bị cáo thừa nhận bản Cáo trạng truy tố là đúng với hành vi phạm tội của bị cáo, không oan sai.
- Bị hại có mặt tại tòa yêu cầu bồi thường theo định giá và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Đức H từ 08 năm tù đến 09 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo không tranh luận, nói lời sau cùng nhận thức được hành vi sai trái vi phạm pháp luật xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:
[1] Xét lời khai nhận của bị cáo Lê Đức H tại phiên tòa cơ bản phù hợp với bản trình báo vụ việc, bản tường trình, trích xuất dữ liệu camera, biên bản nhận dạng, vật chứng đã được thu giữ, kết luận giám định, lời khai của bị cáo, bị hại tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định:
Vào lúc 00 giờ ngày 21/6/2022, bị cáo Lê Đức H thực hiện hành vi đột nhập vào Công ty trách nhiệm hữu hạn Y Việt Nam, địa chỉ tầng 1 Tòa nhà số 27B Nguyễn Đình Chiểu, phường Đa Kao, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Trộm cắp 14 máy laptop các loại qua định giá là 120.750.000 đồng.
Sau đó, đến ngày 19/8/2022, bị cáo H tiếp tục thực hiện hành vi đột nhập vào Công ty trách nhiệm hữu hạn Dịch vụ và Thương mại MESA, địa chỉ 202 Lý Chính Thắng, Phường 9, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Trộm cắp 11 máy laptop các loại qua định giá là 114.500.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản bị trộm cắp là 235.250.000 đồng.
Trong số máy tính mà bị cáo chiếm đoạt của 02 công ty, còn có tài sản của cá nhân là nhân viên trong 02 công ty này gồm các ông Đinh Trường H, Kobayashi T, Trần Văn Tuấn, Nguyễn Trung N và Nguyễn Tấn Đ. Đối với số tài sản do bị cáo H chiếm đoạt vào ngày 19/8/2022 đã được thu hồi trả lại cho bị hại.
Đối với Huỳnh Xuân A (chủ hộ kinh doanh Việt Quỳnh, địa chỉ 226 Võ Văn Ngân, phường Bình Thọ, thành phố Thủ Đức) đã mua 11 máy laptop các loại vào ngày 19/8/2022, khi Xuân A hỏi nguồn gốc số máy laptop này thì H trả lời là hàng thải của Công ty nên bán thanh lý, Anh đồng ý mua lại với giá 26.000.000 đồng. Ông Anh không biết số máy laptop này do H trộm cắp được mà có, lời khai của ông Xuân Anh phù hợp với lời khai của H. Sau khi được Cơ quan điều tra thông báo 11 máy laptop như nêu trên là do H trộm cắp được mà có thì ông A đã tự nguyện giao nộp lại cho Cơ quan điều tra. Đối với số tiền 26.000.000 đồng như nêu trên thì ông A không yêu cầu bị cáo H trả lại cho ông H và không có yêu cầu gì khác, cam kết không khiếu nại hay thắc mắc gì về sau.
Đối với Lê Trung H1 (chủ cửa hàng H1 Nguyễn; địa chỉ số 9 Đường số 8, phường Trường Thọ, thành phố Thủ Đức) khai: H1 không quen biết trước với H. H đã 05 lần đến cửa hàng của H1 và bán cho H1 tổng cộng 14 máy laptop các loại vào các ngày 21/6/2022 bán 02 máy laptop, ngày 23/6/2022 bán 03 máy laptop, ngày 25/6/2022 bán 03 máy laptop, ngày 27/6/2022 bán 03 máy laptop, ngày 29/6/2022 bán 03 máy laptop, tổng số tiền giao dịch là 30.000.000 đồng. Trong đó H1 chuyển tiền vào tài khoản của H số tiền 4.700.000 đồng, gồm: 1.700.000 đồng vào ngày 21/6/2022 và số tiền 3.000.000 đồng vào ngày 25/6/2022. Cơ quan điều tra đã xác minh, sao kê tài khoản Ngân hàng của H1 và H, kết quả phù hợp với lời khai của H1 và H, H1 đưa tiền mặt cho H tổng cộng số tiền 25.300.000 đồng. Các lần đến cửa hàng bán laptop cho H1 thì H đều nói là tài sản của Công ty máy bị lỗi đề nghị cài đặt lại Windows, sau khi cài đặt xong thì H nói bán lại cho H1, H1 không biết số máy laptop như nêu trên do H trộm cắp được mà có. Tuy nhiên, cần phải xem xét về ý thức chủ quan qua 05 lần mua tài sản của Lê Trung H1 đều được H nhờ cài đặt lại phần mềm Windows thì bằng nhận thức thông thường, theo quy định của pháp luật, thì H1 buộc phải biết nguồn gốc tài sản do người khác phạm tội mà có, bởi lẽ giá trị mua lại 14 máy laptop với giá 30.000.000 đồng là thấp hơn rất nhiều lần so với giá trị thực tế và giá đã được định giá. Do đó, việc Cáo trạng kết luận không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H1 là chưa có căn cứ vững chắc, có dấu hiệu bỏ lọt người phạm tội và tội phạm đối với hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Vì vậy, Hội đồng xét xử kiến nghị Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục điều tra làm rõ đối với hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có của Lê Trung H1 trong vụ án này.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình nhưng do vụ lợi cá nhân, phạm tội với lỗi cố ý, phạm tội nhiều lần chiếm đoạt tài sản của người khác có trị giá 235.250.000 đồng.
Do đó, Hội đồng xét xử đã đủ căn cứ kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét bị cáo chiếm đoạt tài sản trị giá như đã nêu trên là dấu hiệu định khung hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm).
Xét bị cáo thành khẩn khai báo; chưa có tiền án, tiền sự; một phần tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại và bị hại có mặt tại phiên tòa xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét bị cáo phạm tội 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự về hình phạt đặt ra đối với bị cáo phải nghiêm, là tù có thời hạn mới đủ sức giáo dục họ ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
[2] Xét Cáo trạng của Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố đối với bị cáo Lê Đức H về khung, điều luật và tội danh như đã viện dẫn trên là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Với lập luận tại đoạn [1] là căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận hay không chấp nhận phần luận tội của Kiểm sát viên, trình bày của bị cáo, bị hại và đương sự.
[3] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của họ. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của họ đã thực hiện đều hợp pháp.
[4] Xét biện pháp tư pháp, bồi thường thiệt hại:
- Đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH Y Việt Nam là bà Nguyễn Thúy Hà yêu cầu Lê Đức H1 bồi thường cho Công ty số tiền 91.750.000 đồng. Đối với 03 cái balo và 01 túi xách như nêu trên, do giá trị tài sản thấp, không đáng kể, Công ty không có hóa đơn, chứng từ nên bà Hà từ chối việc định giá tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì về 03 cái balo và 01 túi xách nêu trên, cam kết không khiếu nại, thắc mắc gì về sau.
- Ông Đinh Trường H yêu cầu bị cáo H bồi thường số tiền 11.000.000 đồng cho máy tính xách tay hiệu Dell Precision 7510.
- Ông Kobayashi T yêu cầu bị cáo H bồi thường số tiền 5.500.000 đồng cho máy tính xách tay hiệu Toshiba Satelitte L50-B205BX bị chiếm đoạt.
- Ông Trần Văn Tuấn đã được nhận lại máy tính hiệu Lenovo Legion (Y530-15ICH, i5 8300H, 8GB DDR4), màu đen. Qua kiểm tra máy không bị hư hỏng gì nên không có yêu cầu bồi thường gì, cam kết không khiếu nại hay thắc mắc gì về sau.
- Công ty TNHH Dịch vụ và Thương mại M đã được nhận lại 09 máy laptop các loại bị cáo H trộm cắp vào ngày 19/8/2022 nên không có yêu cầu bồi thường gì. Đối với 01 ba lô và 01 cặp xách H lấy tại Công ty do giá trị nhỏ nên không yêu cầu bồi thường.
- Ông Nguyễn Trung N và ông Nguyễn Tấn Đ đã được nhận lại máy laptop nên không có yêu cầu bồi thường, cam kết không khiếu nại hay thắc mắc gì về sau.
- Ông Huỳnh Xuân A không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 26.000.000 đồng. Bị cáo H phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra theo yêu cầu của bị hại đối với tài sản đã được định giá theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Còn các tài sản bị hại đã nhận lại hoặc không có yêu cầu bồi thường, trả lại số tiền thì ghi nhận và không xét nữa.
[5] Về xử lý vật chứng, án phí: [5.1] Về xử lý vật chứng:
Thu giữ của bị cáo Lê Đức H1:
- 01 (một) Iphone 13 Pro max, màu xanh, 128GB, số IMEI:
358592370953451 đã qua sử dụng (thực nhận 01 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu xanh, Imei khay sim: 358592370953451 không kiểm tra đời máy, dung lượng, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong) đây là tài sản của bị cáo H không liên quan đến vụ án nhưng tiếp tục tạm giữ để bán đấu giá đảm bảo thi hành án;
- 01 (một) Ipad Pro, màu xám, 128GB, số IMEI: 351417710080251 (model A2461, Serial: TL2QCP4PY7, không kiểm tra dung lượng, Imei do không có nguồn điện, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong) là tài sản bị cáo sử dụng số tiền 26.000.000 đồng do bán tài sản trộm cắp để mua nên tiếp tục tạm giữ để bán đấu giá đảm bảo thi hành án;
- 01 (một) áo khoác màu xanh, dài tay, có mũ trùm đầu, có chữ STANDARD (đã qua sử dụng); 01 (một) quần dài thun màu đen, lưng quần có chữ Yame.vn (đã qua sử dụng); 01 (một) đôi dép màu đen, đế dép có chữ Adidas (đã qua sử dụng). Đây là trang phục bị cáo H mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại Công ty MESA vào ngày 19/8/2022 không còn giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy.
Theo quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[5.2] Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Lê Đức H 08 (tám) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/8/2022.
Buộc bị cáo Lê Đức H bồi thường thiệt hại cho bị hại:
- Công ty TNHH Y số tiền 91.750.000 đồng.
- Ông Đinh Trường H số tiền 11.000.000 đồng.
- Ông Kobayashi T số tiền 5.500.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Tiếp tục tạm giữ và giao Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh bán đấu giá để đảm bảo thi hành án phần án phí, bồi thường thiệt hại cho bị hại, các tài sản sau:
- 01 (một) Iphone 13 Pro max, màu xanh, 128GB, số IMEI: 358592370953451 đã qua sử dụng (thực nhận 01 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu xanh, Imei khay sim: 358592370953451 không kiểm tra đời máy, dung lượng, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong);
- 01 (một) Ipad Pro, màu xám, 128GB, số IMEI: 351417710080251 (model A2461, Serial: TL2QCP4PY7, không kiểm tra dung lượng, Imei do không có nguồn điện, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong);
Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) áo khoác màu xanh, dài tay, có mũ trùm đầu, có chữ STANDARD (đã qua sử dụng); 01 (một) quần dài thun màu đen, lưng quần có chữ Yame.vn (đã qua sử dụng); 01 (một) đôi dép màu đen, đế dép có chữ Adidas (đã qua sử dụng), (Theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2023/387 ngày 26/7/2023 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 5.137.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại và đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại và đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
Bản án về tội trộm cắp tài sản số 397/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 397/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 23/08/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về