Bản án về tội trộm cắp tài sản số 38/2023/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁ THƯỚC, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 38/2023/HS-ST NGÀY 14/12/2023 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 14 tháng 12 năm 2023, tại Nhà văn hóa thôn G, xã Lương Ngoại, huyện B, tỉnh H xét xử sơ thẩm công khai lưu động vụ án hình sự thụ lý số: 37/2023/HSST ngày 13 tháng 11 năm 2023. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:

Trương Văn Th; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 22 tháng 8 năm 1984 tại: xã Lương Ngoại, huyện B, tỉnh Thanh Hoá; Nơi cư trú: Thôn G, xã Lương Ngoại, huyện B, tỉnh H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 02/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; con ông Trương Văn D, sinh năm: 1957 và bà: Trương Thị H, sinh năm: 1962; Trước đây bị cáo chung sống như vợ chồng với Phạm Thị Thúy, sinh năm 1990, Trú tại: xã Khành S, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An; Có 01 con sinh năm 2014; Tiền sự: Không; Tiền án:

04: Bản án sơ thẩm số: 265/2005/HSST ngày 24/10/2005 của TAND tỉnh H xử phạt bị cáo 6 năm tù về tội “Cướp tài sản”; Bản án sơ thẩm số: 13/2017/HSST ngày 05/5/2017 của TAND huyện B, tỉnh H xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; Bản án sơ thẩm số: 13/2020/HSST ngày 09/6/2020 của TAND huyện B, tỉnh H xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án sơ thẩm số: 24/2021/HSST ngày 06/10/2021 của TAND huyện B, tỉnh H xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị giam giữ từ ngày 02/10/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Ngọc H -Trợ giúp viên pháp lý-Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H - Chi nhánh số 2. Có mặt.

- Bị hại: Ông Trương Phúc H, sinh năm: 1963 Trú tại: Thôn G, xã Lương Ngoại, huyện B, tỉnh H.

Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Đình S, sinh năm: 1962 Trú tại: Thôn Điền Tiến, xã Điền, huyện B, H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 40 phút, ngày 02 tháng 10 năm 2023, Trương Văn Th; sinh năm 1984 ở thôn G, xã Lương Ngoại, huyện B, tỉnh Thanh Hoá đến khu vực vườn nhà anh Trương Văn N; sinh năm 1990 ở cùng thôn để chặt mía ăn thì nhìn thấy tại giếng nước nhà anh N có 01 (một) chiếc máy bơm nước ly tâm, nhãn hiệu: HATAVINA, màu xanh-đen, có dán tem màu vàng, đã qua sử dụng của gia đình ông Trương Phúc H ở cùng thôn đặt tại giếng nước (nhà ông H ở cạnh anh nhà N và dùng chung giếng nước với nhà anh N), Th biết gia đình anh N không có ai ở nhà nên đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc máy bơm nước để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Th đi đến giếng nước rút dây điện, tháo ống nước gắn ở máy bơm, đem cất giấu chiếc máy bơm nước tại lề đường tỉnh lộ 523B rồi đi bộ về nhà lấy áo khoác mặc. Sau khi mặc áo xong, Th quay lại nơi cất giấu máy bơm nước ban đầu đem bán cho ông Nguyễn Đình S; sinh năm 1962 ở thôn Điền Tiến, xã Điền Lư, huyện B được 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng). Đến 18 giờ 05 phút cùng ngày, Th đến Công an xã Lương Ngoại, huyện B đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp chiếc máy bơm nước của gia đình ông Trương Phúc H.

Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 05/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện B kết luận: Tại thời điểm tháng 10 năm 2023, 01 (một) máy bơm nước ly tâm, nhãn hiệu: HATAVINA, màu xanh - đen, có dán tem màu vàng, đã qua sử dụng, có giá trị là 383.000 đồng (Ba trăm tám mươi ba nghìn đồng).

Ngày 02/10/2023 ông Nguyễn Đình S tự nguyện giao nộp cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B 01 (một) máy bơm nước ly tâm, nhãn hiệu: HATAVINA, màu xanh - đen, có dán tem màu vàng, đã qua sử dụng mà ông S mua của bị cáo Trương Văn Th.

Tại cơ quan điều tra Trương Văn Th đã khai báo thành khẩn và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm Trộm cắp tài sản của mình.

Về vật chứng của vụ án:

- 01 (một) máy bơm nước ly tâm, nhãn hiệu: HATAVINA, màu xanh - đen, có dán tem màu vàng, đã qua sử dụng là vật chứng của vụ án. Ông Trương Phúc H là chủ sở hữu hợp pháp và có đơn xin lại tài sản nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện B đã trả lại tài sản cho ông H.

- Đối với số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) bị cáo có được từ việc bán máy bơm nước cho Nguyễn Đình S. Ông S không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền trên.

Về dân sự: Ngày 18/10/2023 ông Nguyễn Đình S có đơn không yêu cầu bị cáo bồi thường. Ngày 02/11/2023 ông Trương Phúc H có đơn không yêu cầu bị cáo Trương Văn Th phải đền bù, bồi thường gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 43/CT-VKSBT-TA ngày 13/11/2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Trương Văn Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B giữ nguyên quyết định truy tố đồng thời đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trương Văn Th từ 18 tháng đến 24tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính ngày 02/10/2023. Đề nghị không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với vị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Ông Trương Phúc H và ông Nguyễn Đình S không yêu cầu đền bù, bồi thường gì thêm nên miễn xét. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước của bị cáo số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) bị cáo có được từ việc bán máy bơm nước cho Nguyễn Đình S.

Bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Ý kiến trình bày của người bào chữa cho bị cáo: Đồng tình với quan điểm của Viện kiểm sát. Đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ là “ thành khẩn khai báo “ và “ đầu thú “ là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Do gia đình bị cáo có sổ hộ nghèo, đề nghị HĐXX miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Trương Văn Th đã nhận tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản cùng với những tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 40 phút, ngày 02 tháng 10 năm 2023, Trương Văn Th lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp 01 (một) máy bơm nước ly tâm, nhãn hiệu: HATAVINA, màu xanh - đen, có dán tem màu vàng của gia đình ông Trương Phúc H đặt tại giếng nước nhà anh Trương Văn N ở thôn Giàu Cả, xã Lương Ngoại, huyện B, tỉnh H có trị giá 383.000 đồng (Ba trăm tám mươi ba nghìn đồng ). Mặc dù tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) nhưng Th hiện đang có 04 (bốn) tiền án về các tội xâm phạm quyền sở hữu, chưa được xóa án tích. Vì vậy, hành vi của Trương Văn Th đã phạm vào tội “ Trộm cắp tài sản ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã truy tố bị cáo Trương Văn Th là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2]. Đây là vụ án hình sự ít nghiêm trọng do Trương Văn Th thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn. Bản thân bị cáo đã nhiều lần bị các cơ quan pháp luật xét xử về các hành vi xâm phạm quyền sở hữu, hiện đang bị nhiễm HIV, nhưng không chịu lấy đó làm bài học để tu dưỡng đạo đức rèn luyện bản thân lại tiếp tục dấn thân vào con đường phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy cần xét xử bị cáo một mức án nghiêm minh, tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung [3]. Xét về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo có 04 tiền án, chưa được xóa án tích lại tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản, tuy nhiên do giá trị tài sản lần phạm tội này là 383.000 đồng (Ba trăm tám mươi ba nghìn đồng) nên 04 tiền án trước là tình tiết đã được lấy làm dấu hiệu định tội. Vì vậy, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng là “ tái phạm” hoặc tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm”. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ là “thành khẩn khai báo ” và “ đầu thú ” quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy cần xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, cải tạo sớm trở về đoàn tụ gia đình trở thành người công dân có ích cho xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.

[4]. Về hình phạt tiền bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có công ăn việc làm ổn định. Bị cáo không có tài sản gì đáng kể. Gia đình thuộc hộ nghèo. Bản thân bị nhiễm HIV. Nghĩ nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, người bị hại đã được nhận lại tài sản bị mất trộm và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu phải đền bù, bồi thường gì nên HĐXX không xem xét.

[6]. Về vật chứng vụ án: Đối với 01 (một) máy bơm nước ly tâm, nhãn hiệu: HATAVINA, màu xanh - đen, có dán tem màu vàng, đã qua sử dụng. Hiện cơ quan CSĐT Công an huyện B đã trả lại cho chủ hợp pháp ông Trương Phúc H là phù hợp pháp luật.

[7]. Đối với số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) bị cáo Thành bán tài sản trộm cắp cho ông Nguyễn Đình S mà có. Tuy ông S không yêu cầu Thành phải bồi thường nhưng đây là số tiền Thành thu lời bất chính từ hành vi phạm tội, nghĩ cần truy thu sung vào Ngân sách nhà nước.

[8]. Về hành vi của Nguyễn Đình S có hành vi mua máy bơm nước với Trương Văn Th. Quá trình điều tra xác định S không biết chiếc máy bơm Thành mang đến bán là tài sản do Thành trộm cắp mà có. Giữa Th và S không có sự hứa hẹn hoặc thông đồng, do vậy không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Đình S.

[9]. Về án phí: Do bị cáo thuộc diện hộ nghèo, tại phiên tòa bị cáo xin được miễn tiền án phí nên miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[10]. Về hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên Cơ quan điều tra công an huyện B và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện B trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

 - Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt: Trương Văn Th 21 ( Hai mươi mốt ) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính ngày tạm giữ, tạm giam ( 02/10/2023 ). Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo việc thi hành án.

- Về xử lý vật chứng: Truy thu của bị cáo Trương Văn Th sung vào Ngân sách nhà nước số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).

- Án phí: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trương Văn Th.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo Trương Văn Th. Vắng mặt người bị hại ông Trương Phúc H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đình S. Bị cáo Trương Văn Th được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Trương Phúc H được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án. Ông Nguyễn Đình S được quyền kháng cáo bản án về phần trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

164
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội trộm cắp tài sản số 38/2023/HS-ST

Số hiệu:38/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bá Thước - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:14/12/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về