Bản án về tội trộm cắp tài sản số 37/2023/HS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 37/2023/HS-ST NGÀY 06/07/2023 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 06 tháng 07 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dânhuyện N, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2023/TLST- HS ngày 20 tháng 06 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/20201/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 06 năm 2023 đối với bị cáo:

Đào Đình Q, sinh năm 1981; tại: N, tên gọi khác: Không; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn M, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương; quốc tịch:Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Đào Đình H, và bà Bùi Thị N, ; tiền án: Tại bản án HSST số 53/2022/HSST ngày 06/7/2022 của TAND huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xử phạt Đào Đình Q 09 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (Q đã nộp 200.000 đồng tiền án phí HSST). Ngày 03/12/2022, Q chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích. Tiền sự: Ngày 17/7/2019, Đào Đình Q bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, Quyết định Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian chấp hành 20 tháng. Ngày 06/01/2022, Q chấp hành xong Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nhân thân: Tại bản án HSST số 12/2014/HSST ngày 15/4/2014 của TAND huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương xử phạt Đào Đình Q 27 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Q đã nộp 200.000 đồng tiền án phí HSST vào ngày 06/6/2014). Ngày 08/01/2016, Q chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/4/2023, đến ngày 01/5/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam- Công an tỉnh H cho đến nay- Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: anh Trần Văn T, sinh năm 1973. Trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương( vắng Mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ ngày 28/04/2023, Đào Đình Q một mình điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave alpha, màu trắng - đen - bạc, BKS 34E1 - xxxxx (đăng ký xe mang tên Đinh Thị B - vợ Q) từ nhà của Q để đi tìm việc làm. Đến khoảng 14 giờ 30 cùng ngày, Q điều khiển xe đến trước khu vực cổng nhà anh Bùi Xuân T1, HKTT: thôn P, xã T, huyện N và dựng xe máy đối diện cổng nhà anh T1 để tìm người hỏi xin việc làm. Lúc này, Q thấy 01 chiếc xe đạp và 01 chiếc xe mô tô dựng sát cổng bên ngoài tường bên trái hướng từ ngoài vào cổng nhà anh T1, thấy không có người nên Q nảy sinh ý định trộm cắp tài sản trong cốp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, RSX màu đỏ - đen, BKS: 34E1 - xxxxx của anh Đinh Văn T2 ở thôn P, xã T, huyện N. Q đi đến gần chiếc xe mô tô của anh T2 dùng tay lật cốp xe nhưng không được nên Q chưa lấy được tài sản gì. Q quan sát thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave alpha, màu xanh, BKS: 17B5 - xxxxx của anh Trần Văn T, đang dựng ở bên phải (đầu xe hướng vào trong nhà, đuôi xe hướng ra ngoài cổng) trên đường vào trong cách cổng nhà anh T1 khoảng 06 mét. Q thấy không có người trông coi thì đi bộ đến vị trí xe mô tô của anh T, Q đứng bên trái hướng từ dưới xe lên, tỳ người vào yên xe dùng tay trái kéo yên xe lên rồi luồn tay phải vào trong cốp xe, móc lôi ra 01 chiếc ví da gấp màu đen và đút ví vào trong túi quần sau Q đang mặc rồi đi ra chiếc xe mô tô Q đi đến rồi nổ máy đi khoảng 500 mét thì rẽ trái đi được khoảng gần 01 Km thì Q điều khiển xe vào khu nghĩa địa thôn P, xã T để kiểm tra tài sản trộm cắp được. Tại đây, Q lục soát ví thấy ở ngăn kéo khóa không có tiền, ngăn bên cạnh có nhiều tờ tiền, kiểm đếm được 06 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 18 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, tổng số tiền là 6.610.000 đồng và một số giấy tờ của anh T. Q lấy hết số tiền trong ví còn chiếc ví cùng giấy tờ của anh Thanh Q1 để lại ở trước một ngôi mộ, lấy một viên gạch chỉ đè lên mục đích để không cho người khác biết việc Q1 trộm cắp. Sau đó, Q1 đã sử dụng hết 910.000 đồng để tiêu sài cá nhân. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày Q1 về nhà cất giấu số tiền còn lại. Q1 cất 4.000.000 đồng (gồm 08 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng) ở túi áo Vest, màu xám của Q1 treo trong tủ quần áo, loại tủ gỗ 3 cánh trong phòng của nhà Q1, còn số tiền 1.700.000 đồng (gồm 06 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 04 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng) Q1 để vào trong ví của Q1 rồi để ở trên nóc tủ gỗ trên. Ngày 29/4/2023, Q1 biết Công an huyện N đang điều tra vụ trộm cắp trên, nghĩ sự việc sẽ bị lộ nên Q1 đã đến cơ quan CSĐT Công an huyện N đầu thú, thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình như trên để được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 22 ngày 16/05/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện N, tỉnh Hải Dương, kết luận: tại thời điểm ngày 28/04/2023 như sau: Giá trị của 01 chiếc ví da bò màu đen, kiểu ngang, mặt ngoài ví da dập chữ “ARMANI”, mặt trong trước ngăn phụ dập chữ “NEW DA 100% LEATHER”, có 03 ngăn đựng chính và 06 ngăn đựng phụ, có giá trị là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện N thu giữ: Số tiền 5.700.000 đồng, 01 ví da, 01 thẻ căn cước, 01 giấy phép lái xe, 01 thẻ bảo hiểm y tế và 01 thẻ ngân hàng, 01 xe máy Honda, loại xe Wave alpha, màu trắng - đen - bạc, BKS 34E1 - xxxxx. 01 ví da màu đen đã qua sử dụng( của bị cáo Q1) Tại Bản cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 16/06/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang truy tố bị cáo Đào Đình Q về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với nội dung bản cáo trạng bị cáo đã nhận và thông qua tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì thắc mắc gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày luận tội, giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Đào Đình Q phạm tội; Trộm cắp tài sản.

Về hình phạt:Áp dụng khoản 1 điều 173;

điểm b, s khoản 1, 2 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Đình Q từ 9 tháng tù đến 12 tháng tù , thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 29/4/2023.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS; Tịch thu cho tiêu hủy, 01 chiếc ví da màu đen đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra việc giải quyết. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật TTHS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự.

Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan Điều tra Công an huyện N, Điều tra viên,Viện kiểm sát huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng biên bản khám nghiện hiện trường, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 14 giờ 30 ngày 28/04/2023, tại khu vực cổng nhà anh Bùi Xuân T1, ở thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương, Đào Đình Q đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, lén lút trộm cắp 01 chiếc ví da bên trong ví có số tiền 6.610.000 đồng để trong cốp chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave alpha, màu xanh, BKS: 17B5 - xxxxx của anh Trần Văn T.Tổng trị giá tài sản Q chiếm đoạt là 6.910.000 đồng (Sáu triệu chín trăm mười nghìn đồng). Bị Cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi của mình là Vi phạm pháp luật, nhưng với mục đích vụ lợi, ý thức coi thường pháp luật, muốn có tiền tiêu xài cá nhân nhằm thỏa mãn nhu cầu riêng, bị cáo cố ý thực hiện. Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình.

[3] Xét thấy bị cáo đã lén lút chiếm đoạt của anh Trần Văn T số tiền 6.910.000đ đủ yếu tố cầu thành tội “Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 BLHS. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ngay giữa ban ngày thể hiện sự táo bạo, nguy hiểm cho xã hội, tính coi thường pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác là khách thể được pháp luật bảo vệ. Cần có mức hình phạt nghiêm dành cho bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bản án HSST số 53/2022/HSST ngày 06/7/2022 của TAND huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xử phạt Đào Đình Q 09 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 03/12/2022, Q chấp hành xong hình phạt tù, bản án này chưa được xóa án tích theo quy định, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã ra đầu thú về hành vi phạm tội của mình, bị cáo tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại khắc phục hậu quả, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bố đẻ bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Ba. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, b khoản 1,2 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên, về nhân thân bị cáo Hội đồng xét xử thấy; năm 2014, bị cáo đã bị xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; năm 2019, bị Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Điều đó thể hiện bị cáo là đối tượng lười lao động, không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân mà khi có cơ hội lại tiếp tục phạm tội. Xét nhân thân, tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần có mức hình phạt đủ răn đe giáo dục bị cáo, áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, kinh tế bản thân không có, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

[7] Về Trách nhiệm dân sự: Bị can Đào Đình Q đã tác động gia đình bồi thường số tiền còn lại mà Q đã chi tiêu là 910.000 đồng cho bị hại là anh Trần Văn T, anh T không yêu cầu gì khác về bồi thường dân sự nên không phải đặt ra giải quyết.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 5.700.000 đồng, 01 ví da, 01 thẻ căn cước, 01 giấy phép lái xe, 01 thẻ bảo hiểm y tế và 01 thẻ ngân hàng là số đồ vật, giấy tờ và tài sản hợp pháp của anh Trần Văn T. Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã trả cho anh T. 01 xe máy Honda, loại xe Wave alpha, màu trắng - đen - bạc, BKS 34E1 - xxxxx, quá trình điều tra xác định: Tháng 8/2021, chị Đinh Thị B (vợ của Đào Đình Q) được em gái ruột là chị Đinh Thị H1 cho riêng số tiền 19.500.000 đồng, để mua chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave alpha, màu trắng - đen - bạc, BKS 34E1 - xxxxx và làm thủ tục đăng ký xe mang tên chị B. Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã trả chiếc xe máy trên cho chị B là phù hợp. Đối với 01 ví da màu đen đã qua sử dụng, mặt trước in hình cá sấu, dạng ví gấp ngang, có 03 ngăn, đây là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại bị cáo; tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo không xin nhận lại, đề nghị cho tiêu hủy nên cần tịch thu cho tiêu hủy chiếc ví da trên của bị cáo.

Đại diện VKSND huyện Ninh Giang đề nghị về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của vụ án là có căn cứ và phù hợp với nhận định của HĐXX.

[9]. Các vấn đề khác: Đối với chị Đinh Thị B là người cho Q mượn chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave alpha, màu trắng - đen - bạc, BKS 34E1 - xxxxx. Chị B không biết Q sử dụng phương tiện của mình vào việc phạm tội, nên không có căn cứ để xử lý.

[10] Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản khoản 1 Điều 173, điểm s, b khoản 1,2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS.

Tuyên bố: bị cáo Đào Đình Q phạm tội “ Trộm cắp tài sản”

Về hình phạt : Xử phạt bị cáo Đào Đình Q 10 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/4/2023.

Về Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm c Khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu cho tiêu hủy; 01 ví da màu đen đã qua sử dụng, mặt trước in hình cá sấu, dạng ví gấp ngang, có 03 ngăn (Đặc điểm tình trạng vật chứng như biên bản bàn giao giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục thi hành án huyện Ninh Giang ngày 23/6/2023)

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sựNghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Bị cáo Q phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc nhận được bản sao bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

33
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội trộm cắp tài sản số 37/2023/HS-ST

Số hiệu:37/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ninh Giang - Hải Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 06/07/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về