TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 352/2023/HS-ST NGÀY 26/07/2023 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Ngày 26 tháng 7 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 431/2023/TLST-HS, ngày 08/6/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2762/2023/QĐXXST-HS ngày 10/7/2023 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Minh Th; giới tính: nam; sinh ngày: 31/12/1990, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: 47A/50 A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: ấp D, xã E, huyện F, tỉnh G; Q tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề ngH: không; Trình độ học vấn: 8/12; con ông Nguyễn Văn H và bà Tăng Thị I; sống chung như vợ chồng với Trần Ngọc Thùy L (bị cáo trong vụ án) và có 01 con chung sinh năm 2020;
Nhân thân:
+ Bị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” tại Bản án số 79/2010/HSST ngày 02/7/2010, chấp hành xong ngày 12/5/2012;
+ Bị Tòa án nhân dân Quận 10 xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 59/2013/HSST ngày 07/5/2013, chấp hành xong ngày 04/01/2014;
+ Bị Tòa án nhân dân Quận 6 xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 64/2015/HSST ngày 09/6/2015, chấp xong ngày 09/9/2017;
Tiền án:
+ Bị Tòa án nhân dân Quận 1 xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 95/2020/HSST ngày 31/7/2020, chấp hành xong ngày 08/8/2021;
Tiền sự: không;
Bị bắt, tạm giam từ ngày 27/3/2022 (có mặt).
2. Trần Ngọc Thùy L; giới tính: nữ; sinh ngày: 19/5/1995, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: 2/8 đường số 2, khu phố 2, phường K, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: ấp N, xã O, huyện P, tỉnh Long An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề ngH: phụ bán cà phê; Trình độ học vấn:
6/12; con ông Trần Ngọc R và bà Trần Kim S; sống chung như vợ chồng với Nguyễn Minh Th (bị cáo trong vụ án) và có 05 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh ngày 13/4/2023; Tiền án, tiền sự: không;
Bị bắt, tạm giam từ ngày 27/3/2022, đến ngày 06/4/2022 được thay đổi biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).
3. Cung Đình Q; giới tính: nam; sinh ngày: 02/4/1981, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: 462/35 đường T, Phường U, Quận V, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 444/2/7 đường T, Phường U, Quận V, Thành phố Hồ Chí Minh; Q tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Nghề ngH: không; Trình độ học vấn: 6/12; con ông Cung Văn W và bà Phạm Thị Y; chưa có vợ, con;
Nhân thân:
+ Bị Tòa án nhân dân Quận 3 xử phạt 01 năm 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Trốn khỏi nơi giam giữ” tại Bản án số 141/2013/HSST ngày 05/9/2013, chấp hành xong ngày 31/10/2014;
+ Bị Tòa án nhân dân Quận 3 ra Quyết định số 35/QĐ-TA ngày 07/5/2015 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
Tiền án:
+ Bị Tòa án nhân dân Quận 10 xử phạt 01 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” tại Bản án số 77/2010/HSST ngày 21/9/2018, chấp xong ngày 18/5/2019, nhưng chưa nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 5.000.000 đồng phạt bổ sung;
+ Bị Tòa án nhân dân Quận 1 xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 95/2010/HSST ngày 31/7/2020, chấp hành xong ngày 08/02/2022;
Tiền sự: không;
Bị bắt, tạm giam từ ngày 27/3/2022 (có mặt).
4. Huỳnh Trung L1; giới tính: nam; sinh ngày: 10/6/1973, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 254/49/1D A1, Phường 9, quận B1, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 118/15 đường C1, Phường 10, quận D1, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; tôn giáo: Phật giáo; Nghề ngH: thu mua phế liệu; Trình độ học vấn: không biết chữ; con ông Huỳnh E1 (chết) và bà Đỗ F1 (chết); có vợ và 02 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2004;
Nhân thân: Bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tại Bản án số 244/2013/HSST ngày 15/4/2013, chấp hành xong ngày 05/7/2014;
Tiền án:
+ Bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú xử phạt 10 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tại Bản án số 115/2017/HSST ngày 03/8/2017, chấp hành xong ngày 15/8/2017;
+ Bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú xử phạt 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tại Bản án số 52/2019/HSST ngày 18/4/2019, chấp hành xong ngày 07/11/2020;
Tiền sự: không;
Bị bắt, tạm giam từ ngày 27/3/2022 (có mặt).
5. Phạm Văn R1; giới tính: nam; sinh ngày: 01/01/1984, tại tỉnh Long An; Nơi đăng ký thường trú: Ấp 3, xã G1, huyện H1, tỉnh Long An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 7/12; con ông Phạm Văn I1 và bà Nguyễn Thị J1; chưa có vợ, con; tiền án; tiền sự: không;
Bị bắt, tạm giam từ ngày 27/3/2022 (có mặt).
6. Nguyễn Hồ Minh H; giới tính: nam; sinh ngày: 25/4/1988, tại tỉnh Bình Dương; Nơi đăng ký thường trú: 6/15A khu phố Th Lợi 1, phường K1, thành phố L1, tỉnh Bình Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Văn M1 và bà Hồ Thị Phương N1; có vợ và 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2016;
Tiền án: Bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 08 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 102/2020/HSST ngày 25/9/2020 (chưa thi hành án);
Tiền sự: không;
Bị bắt, tạm giam từ ngày 27/3/2022 (có mặt).
- Bị hại:
1. Ông Phan Văn O1; sinh năm 2001 (vắng mặt). Địa chỉ: Xóm 1, thôn 6, T1, huyện U1, tỉnh V1;
Tạm trú: 343/25 đường Q1, Phường R2, Quận S1, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Ông Lê Anh P1; sinh năm 1986 (vắng mặt).
Địa chỉ: 343/16G Tô Hiến Thành, Phường 12, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Ông Nguyễn Hữu Q1; sinh năm 1958 (vắng mặt).
Địa chỉ: 411 đường U1, Phường 5, quận V1, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Bà Vương Ngọc R1; sinh năm 1989 (vắng mặt).
Địa chỉ: 239 Lô Y chung cư A2, Phường B2, Quận C2, Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Ông Đỗ Quang S1; sinh năm 1996 (vắng mặt). Địa chỉ: phường D2, quận E2, tỉnh F2;
Tạm trú: 252 đường G2, Phường H2, Quận I2, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Minh Th nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản là xe gắn máy để bán lấy tiền tiêu xài, Th rủ Trần Ngọc Thùy L và Cung Đình Q đi lòng vòng trên các tuR1 đường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, tìm những xe gắn máy để trước nhà hoặc trước các cửa hàng, không người trông coi, dùng đoản mở khóa xe, nổ máy rồi điểu khiển xe tẩu thoát. Th là người chuẩn bị dụng cụ mở khóa xe (đoản), phân công L hoặc Q đứng ngoài nổ máy xe để canh chừng cho Th đi đến dùng đoản bẻ khóa, lấy trộm xe rồi cùng tẩu thoát, bằng thủ đoạn trên, Th, L và Q đã thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản; cụ thể:
- Vụ thứ nhất: Ngày 28/01/2022, Th rủ L đi trộm cắp tài sản, Th điều khiển xe gắn máy biển số 59F2-X chở L đi ngang Trường mầm non Ngôi Nhà Bé Thơ, địa chỉ: 134/1/2 Cách Mạng Tháng Tám, Phường 10, Quận 3, Th phát hiện chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave màu xanh, biển số 59U1-X của bà Vương Ngọc R1, để trước cổng trường, không có người trông coi, Th dừng xe để L đứng canh chừng còn Th đi lại gần dùng đoản mở khóa xe của bà R1, nổ máy xe rồi cùng tẩu thoát.
Kết luận giám định số 15/KL-HĐĐGTS ngày 04/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận 3, kết luận: Chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave màu xanh, biển số 59U1-X, trị giá 7.333.000 đồng.
- Vụ thứ hai: Ngày 02/02/2022, Th rủ L đi trộm cắp tài sản, Th điều khiển xe gắn máy biển số 59F2-X chở L đi ngang qua nhà số 411 Võ Văn Tần, Phường 5, Quận 3, Th phát hiện chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave RSX màu đen biển số 59F2-X của ông Nguyễn Hữu Q1, để trước cửa nhà, không người trông coi, Th dừng xe để L đứng canh chừng còn Th đi lại gần dùng đoản mở khóa xe của ông Q1, nổ máy xe rồi cùng tẩu thoát.
Kết luận giám định số 40/KL-HĐĐGTS ngày 04/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận 3, kết luận: Chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave RSX màu đen biển số 59F2-X, trị giá 16.167.000 đồng.
- Vụ thứ ba: Ngày 19/02/2022, Th rủ L đi trộm cắp tài sản, Th điều khiển xe gắn máy biển số 59F2-X chở L đi ngang qua nhà số 343/16G Tô Hiến Thành, Phường 12, Quận 10, phát hiện chiếc xe gắn máy hiệu Honda Future Neo màu đen, biển số 79H1-X của ông Lê Anh P1, để trước cửa nhà, không người trông coi, Th dừng xe để L đứng canh chừng còn Th đi lại gần dùng đoản mở khóa xe của ông Tuấn, nổ máy xe rồi cùng tẩu thoát.
Kết luận giám định số 629/KL-HĐĐGTS ngày 08/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận 10, kết luận: Chiếc xe gắn máy hiệu Honda Future Neo màu đen, biển số 79H1-X, trị giá 20.000.000 đồng.
- Vụ thứ tư: Ngày 06/3/2022, Th rủ Q đi trộm cắp tài sản, Th điều khiển xe gắn máy biển số 59F2-X chở Q đi ngang qua cửa hàng điện thoại di động FPT, địa chỉ: 516 Cách Mạng Tháng Tám, Phường 11, Quận 3, Th phát hiện chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave màu đen, biển số 93B1-X của ông Đỗ Quang S1 đang để trước cửa hàng, không người trông coi, Th dừng xe để Q đứng canh chừng còn Th đi lại gần dùng đoản mở khóa xe của ông S1, trong lúc mở thì chiếc đoản bị gãy, không lấy được xe đi nên Th lên xe Q chờ sẵn rồi bỏ đi.
Kết luận giám định số 3820/KL-HĐĐGTS ngày 14/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự cấp Thành phố, kết luận: Chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave màu đen, biển số 93B1-X, trị giá 16.625.000 đồng.
- Vụ thứ năm: Ngày 21/3/2022, Th rủ Q đi trộm cắp tài sản, Th điều khiển xe gắn máy biển số 59F2-X chở Q đi ngang qua Cửa hàng tiện lợi GS20, địa chỉ: 01 Hoàng Dư Khương, Phường 12, Quận 3, phát hiện chiếc xe gắn máy hiệu Honda Future Neo màu đỏ, biển số 86B7-352.37 của ông Phan Văn O1 đang để trước cửa hàng, không người trông coi, Th dừng xe để Q đứng canh chừng còn Th đi lại gần dùng đoản mở khóa xe của ông O1, sau khi mở khóa xong phát hiện chiếc xe có khóa xích vào bánh trước nên không lấy được xe, nên Th lên xe Q chờ sẵn rồi bỏ đi.
Kết luận giám định số 613/KL-HĐĐGTS ngày 08/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận 10, kết luận: Chiếc xe gắn máy hiệu Honda Future Neo màu đỏ, biển số 86B7-352.37, trị giá 16.000.000 đồng.
Đối với các chiếc xe gắn máy sau khi trộm cắp được, Th đem đến đầu hẻm 118 Trần Văn Quang, Phường 10, quận Tân Bình bán cho Huỳnh Trung L1 là bạn chơi chung với nhau từ khoảng 01 năm trước, Lương biết những chiếc xe gắn máy mà Th đem đến bán là xe trộm cắp được mà có, do xe không có giấy tờ, ổ khóa bị hư, giá rẻ nhưng vẫn đồng ý mua để bán lại lấy lời. Cụ thể: Lương mua chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave màu xanh, biển số 59U1-X với giá 5.000.000 đồng; mua chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave RSX màu đen biển số 59F2-X với giá 6.000.000 đồng và mua chiếc xe gắn máy hiệu Honda Future Neo màu đen, biển số 79H1-X với giá 6.000.000 đồng. Sau đó, Lương liên hệ và bán lại cho Phạm Minh Cảnh; Lương thỏa thuận bán cho Cảnh chiếc xe biển số 59F2-X với giá 6.000.000 đồng, chiếc xe biển số 59F2-X với giá 7.000.000 đồng và chiếc xe biển số 79H1-X với giá 7.000.000 đồng. Sau khi mua xong, Cảnh kêu Phạm Văn R1 (em ruột Cảnh) và Nguyễn Hồ Minh H (em rể Cảnh) đi đến đầu hẻm 118 Trần Văn Quang, Phường 10, quận Tân Bình nhận rồi điều khiển đến khu vực biên giới Campuchia giáp tỉnh Long An giao cho một người tên “Nắc” (không rõ lai lịch) theo sự chỉ dẫn của Cảnh; Sau khi giao xe, Cảnh cho R1 700.000 đồng và cho H 100.000 đồng tiền công. Khi đi nhận xe, R1 và H biết được các xe lấy từ Lương là xe do trộm cắp mà có do khóa xe đều đã bị phá, xe không có giấy tờ, giá xe chỉ bằng một nửa so với giá thị trường, nhưng R1 và H vẫn đồng ý đi lấy xe giúp Cảnh để nhận tiền công.
Qua truy xét ngày 27/3/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Minh Th, Trần Ngọc Thùy L, Cung Đình Q, Huỳnh Trung L1, Phạm Văn R1 và Nguyễn Hồ Minh H. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Th, L, Q, Lương, R1 và H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của các bị can phù hợp lời khai các bị hại và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Ngoài ra, quá trình điều tra Nguyễn Minh Th và Cung Đình Q còn khai nhận vào ngày 15/3/2022, Th cùng với Q trộm cắp 01 xe máy hiệu Honda Wave Alpha (không rõ địa chỉ, không rõ biển số) bán cho Lương được 6.000.000 đồng, Lương bán lại cho H với giá 7.500.000 đồng, H bán lại cho đối tượng tên “Nắc” với giá 9.000.000 đồng; ngày 17/3/2022, Th cùng với Q trộm cắp 01 xe gắn máy Honda Wave RSX (không rõ địa chỉ, không rõ biển số), bán cho Lương được 3.500.000 đồng, Lương bán lại cho H với giá 4.500.000 đồng, H bán lại cho đối tượng tên “Nắc” với giá 6.000.000 đồng, Th và Q không nhớ địa chỉ cụ thể của 02 vụ trộm trên ở đâu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã có công văn gửi Công an 21 quận, huyện và thành phố Thủ Đức rà soát thông tin liên quan đến 02 vụ án trộm cắp trên, đồng thời đăng báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh tìm bị hại nhưng đến nay không có người nào trình báo.
Đối với đối tượng Phạm Minh Cảnh và đối tượng tên “Nắc” (chưa rõ lai lịch) là những đối tượng có hành vi mua xe do Th trộm cắp, qua xác minh hiện Cảnh không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra chưa ghi được lời khai, Cơ quan điều tra đã tách vụ án “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” để tiếp tục xác minh truy tìm khi có căn cứ xử lý sau.
Về phần dân sự: Bà Vương Ngọc R1 yêu cầu bồi thường số tiền 7.000.000 đồng, ông Nguyễn Hữu Q1 yêu cầu bồi thường 16.000.000 đồng và ông Lê Anh P1 yêu cầu bồi thường 20.000.000 đồng, ông Phan Văn O1 yêu cầu bồi thường 2.500.000 đồng chi phí sửa xe; hiện các bị cáo chưa bồi thường. Riêng anh Đỗ Quang S1 không có yêu cầu bồi thường.
Tại bản Cáo trạng số 291/CT-VKS-P2 ngày 23/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a, b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Truy tố bị cáo Cung Đình Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Truy tố bị cáo Trần Ngọc Thùy L về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Truy tố bị cáo Huỳnh Trung L1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo các điểm b, đ khoản 2 Điều 323 Bộ luật Hình sự; Truy tố các bị cáo Phạm Văn R1 và Nguyễn Hồ Minh H về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị cáo Nguyễn Minh Th thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và trình bày đồng ý bồi thường giá trị của ba chiếc xe theo giá của Hội đồng định giá và không đồng ý bồi thường tiền sửa xe cho ông Phan Văn O1.
Bị cáo Trần Ngọc Thùy L thừa nhận hành vi phạm tội của mình và trình bày đồng ý cùng Nguyễn Minh Th bồi thường lại cho 3 bị hại ba chiếc xe trên theo giá của Hội đồng định giá.
Các bị cáo Cung Đình Q, Huỳnh Trung L1, Phạm Văn R1 và Nguyễn Hồ Minh H thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố theo Cáo trạng và đề nghị:
- Áp dụng điểm a, b, c khoản 2 Điều 173; điểm g, h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Th từ 05 năm đến 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm a, g khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Cung Đình Q từ 04 năm đến 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Ngọc Thùy L từ 03 năm đến 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 323; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Huỳnh Trung L1 từ 03 năm 04 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phạm Văn R1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Hồ Minh H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Về xử lý vật chứng, căn cứ điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Về bồi thường dân sự, căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo Nguyễn Minh Th, Trần Ngọc Thùy L có trách nhiệm liên đới bồi thường cho các bị hại Vương Ngọc R1, Nguyễn Hữu Q1, Lê Anh P1, Phan Văn O1 theo quy định pháp luật.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Minh Th, Trần Ngọc Thùy L, Cung Đình Q, Huỳnh Trung L1, Phạm Văn R1, Nguyễn Hồ Minh H không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ vào lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Minh Th, Trần Ngọc Thùy L, Cung Đình Q, Huỳnh Trung L1, Phạm Văn R1, Nguyễn Hồ Minh H tại phiên tòa cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Để có tiền tiêu xài cá nhân, Nguyễn Minh Th đã rủ Trần Ngọc Thùy L và Cung Đình Q tìm những xe gắn máy để trước nhà hoặc trước các cửa hàng, không người trông coi trên địa bàn Quận 3, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh để trộm cắp. Th là người chuẩn bị dụng cụ mở khóa xe (đoản), phân công L hoặc Q đứng ngoài nổ máy xe để canh chừng cho Th đi đến dùng đoản bẻ khóa, lấy trộm xe rồi cùng tẩu thoát. Sau khi lấy được tài sản, Th đem đến đầu hẻm 118 Trần Văn Quang, Phường 10, quận Tân Bình bán cho Huỳnh Trung L1, Lương biết những chiếc xe mà Th mang đến bán là do trộm cắp được mà có nhưng vẫn đồng ý mua. Sau đó, Lương bán lại các xe mua được từ Th cho Phạm Minh Cảnh để hưởng chênh lệch. Sau khi mua xong, Cảnh kêu Phạm Văn R1 (em ruột Cảnh) và Nguyễn Hồ Minh H (em rể Cảnh) đi đến đầu hẻm 118 Trần Văn Quang, Phường 10, quận Tân Bình nhận xe rồi điều khiển đến khu vực biên giới Campuchia giáp tỉnh Long An giao cho một người tên “Nắc” (không rõ lai lịch) theo sự chỉ dẫn của Cảnh; sau khi giao xe, Cảnh cho R1 700.000 đồng và cho H 100.000 đồng tiền công. Khi đi nhận xe, R1 và H biết được các xe lấy từ Lương là xe do trộm cắp mà có, nhưng R1 và H vẫn đồng ý đi lấy xe giúp Cảnh để nhận tiền công. Cụ thể:
Vào các ngày 28/01/2022, 02/02/2022, 19/02/2022, Th cùng với L đã lấy trộm được 03 chiếc xe (biển số 59U1-X, biển số 59F2-X và biển số 79H1- X). Th đã bán lại 03 xe này cho Lương với giá tổng cộng là 17.000.000 đồng.
Lương đã bán lại 03 xe này cho Cảnh với giá tổng cộng là 20.000.000 đồng, hưởng lợi 3.000.000 đồng.
Vào các ngày 06/3/2022, 21/3/2022, Th cùng với Q thực hiện 02 vụ trộm đối với các xe máy biển số 93B1-X và biển số 86B7-352.37, nhưng không lấy được tài sản.
Tổng giá trị của 05 chiếc xe máy trong 05 vụ trộm nêu trên đã qua giám định là 76.125.000 đồng (theo các Kết luận giám định số 15/KL-HĐĐGTS ngày 04/3/2022, số 40/KL-HĐĐGTS ngày 04/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận 3; các Kết luận giám định số 613/KL-HĐĐGTS và số 629/KL- HĐĐGTS cùng ngày 08/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận 10; Kết luận giám định số 3820/KL-HĐĐGTS ngày 14/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự cấp Thành phố).
Vào các ngày 15/3/2022, 17/3/2022, Th cùng với Q đã lấy trộm được 02 chiếc xe máy, nhưng không nhớ rõ biển số và địa chỉ cụ thể 02 vụ trộm. Th đã bán lại 02 chiếc xe này cho Lương được 9.500.000 đồng; Lương bán lại 02 xe này cho H với giá 12.000.000 đồng; H bán lại 02 xe này cho “Nắc” với giá 15.000.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh Th đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp “Có tổ chức; có tính chất chuyên ngH; chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại các điểm a, b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo Cung Đình Q đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp có tổ chức và tái phạm nguy hiểm, tội phạm và hình phạt được quy định tại các điểm a, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo Trần Ngọc Thùy L đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp “Có tổ chức”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo Huỳnh Trung L1 đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” thuộc trường hợp “Có tính chất chuyên ngH; tái phạm nguy hiểm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại các điểm b, đ khoản 2 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của các bị cáo Phạm Văn R1, Nguyễn Hồ Minh H đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” thuộc trường hợp “Tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất an ninh trật tự cho xã hội, do vậy phải xử lý nghiêm trước pháp luật nhằm giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo Th, Q, L phạm tội với vai trò đồng phạm có tổ chức; bị cáo Th là người chủ mưu cầm đầu, chuẩn bị công cụ phạm tội, trực tiếp thực hiện hành vi bẻ khóa, lấy trộm xe, bán xe lấy trộm được, các bị cáo Q, L có vai trò đồng phạm giúp sức tích cực trong việc cảnh giới cho bị cáo Th. Do đó, khi xét xử cần lượng hình với vai trò đồng phạm đối với các bị cáo theo Điều 58 của Bộ luật Hình sự nhưng có sự phân hóa vai trò để có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi từng bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Th phạm tội thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên và tái phạm do có 01 tiền án chưa được xóa án tích là các tình tiết được quy định tại các điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo L, Q, Lương, R1, H phạm tội thuộc trường hợp 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Th, L, Q, Lương, R1, H đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, áp dụng cho các bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo R1 còn được áp dụng tình tiết phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với bị cáo Huỳnh Trung L1 đã nộp lại số tiền 5.500.000 đồng do thu lợi bất chính nên áp dụng thêm cho bị cáo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bà Vương Ngọc R1 yêu cầu bồi thường số tiền 7.000.000 đồng, ông Nguyễn Hữu Q1 yêu cầu bồi thường 16.000.000 đồng, ông Lê Anh P1 yêu cầu bồi thường 20.000.000 đồng, ông Phan Văn O1 yêu cầu bồi thường 2.500.000 đồng chi phí sửa xe. Đối với ông Đỗ Quang S1 không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
Hội đồng xét xử xét thấy như sau: Về các yêu cầu bồi thường của bà Vương Ngọc R1, ông Nguyễn Hữu Q1 và ông Lê Anh P1 yêu cầu bồi thường là tự nguyện và phù hợp pháp luật, nên buộc bị cáo Th và L phải có nghĩa vụ bồi thường cho bà Vương Ngọc R1, ông Nguyễn Hữu Q1 và ông Lê Anh P1.
Về yêu cầu của ông Phan Văn O1 về việc yêu cầu tiền sửa xe là 2.500.000 đồng, yêu cầu này không có giấy tờ chứng cứ chứng minh này là hợp lệ, nên không chấp nhận.
Ngoài ra, cần buộc bị cáo Nguyễn Hồ Minh H phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 3.000.000 đồng để nộp vào ngân sách nhà nước.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với: 01 túi vải có chữ “NaRaYa”; 08 đoản kim loại, một đầu lục giác, một đầu mài nhọn; 01 con lân bằng kim loại màu vàng; 01 nón bảo hiểm màu xanh đen, 01 quần jean dài màu xanh đen; 01 áo sơ mi sọc caro đỏ trắng; 01 thanh kim loại hình trụ vuông, màu vàng; 02 thanh kim loại tròn, hình chữ L, trong đó: 01 thanh được cuốn băng keo màu đen, 01 thanh được cuốn băng keo màu xanh; 03 biển số xe máy: 70G1-X, 63H6-X, 37E1-X; 03 kính chiếu hậu xe gắn máy, màu đen; xét đây là các vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội thu giữ của bị cáo Nguyễn Minh Th, vật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với: 01 xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu: Honda, số loại: Wave, dung tích xilanh: 109, biển số: 59F2-X, số khung: RLHJA3920MY100131, số máy: JA39E-221361 (không gương, máy móc bên trong không kiểm tra); 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, số Imei: 355351085617775 (thực nhận điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, không kiểm tra được đời máy, không kiểm tra Imei do không có nguồn điện, Imei khay sim:...57178, Model A1784, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, số Imei: 357266093588735 (thực nhận điện thoại di động hiệu Iphone Max, không kiểm tra được đời máy, Imei do không có nguồn điện, Imei ở khay sim, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số Imei: 355827091539160 (không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số Imei: 355776102421076 (không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 10, số Imei: 358777102407047 (thực nhận Samsung, không kiểm tra đời máy do không có nguồn điện, số Imei: 358777102407047, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong), là các vật chứng thu giữ của các bị cáo Th, L, Q, Lương, R1 và H; xét đây là các tang vật các bị cáo sử dụng có liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Đối với 04 USB chuyển lưu theo hồ sơ vụ án.
- Đối với số tiền 5.500.000 đồng do bị cáo Huỳnh Trung L1 nộp lại do thu lợi bất chính (theo Biên lai thu tiền số 04363 ngày 23/3/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh) tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Bị cáo Nguyễn Minh Th phải nộp 1.075.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; bị cáo Trần Ngọc Thùy L phải nộp 1.075.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng điểm a, b, c khoản 2 Điều 173; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Th 06 (sáu) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 27/3/2022.
2. Áp dụng điểm a, g khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Cung Đình Q 05 (năm) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù được tính từ ngày 27/3/2022.
3. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Ngọc Thùy L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giam từ ngày 27/3/2022 đến ngày 06/4/2022.
4. Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 323; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Trung L1 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày 27/3/2022.
5. Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn R1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày 27/3/2022.
6. Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm g, h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồ Minh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tổng hợp hình phạt 08 (tám) năm tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 102/2020/HSST ngày 25/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, buộc bị cáo chấp hành hình phạt của cả hai bản án là 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/3/2022.
7. Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự;
- Buộc các bị cáo Nguyễn Minh Th, Trần Ngọc Thùy L có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bị hại Vương Ngọc R1 số tiền 7.000.000 đồng, cụ thể: Bị cáo Th bồi thường 3.500.000 (ba triệu năm trăm ngàn) đồng, bị cáo L bồi thường 3.500.000 (ba triệu năm trăm ngàn) đồng;
- Buộc các bị cáo Nguyễn Minh Th, Trần Ngọc Thùy L có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bị hại Nguyễn Hữu Q1 số tiền 16.000.000 đồng, cụ thể: Bị cáo Th bồi thường 8.000.000 (tám triệu) đồng, bị cáo L bồi thường 8.000.000 (tám triệu) đồng;
- Buộc bị cáo Nguyễn Minh Th, Trần Ngọc Thùy L có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bị hại Lê Anh P1 số tiền 20.000.000 đồng, cụ thể: Bị cáo Th bồi thường 10.000.000 (mười triệu) đồng, bị cáo L bồi thường 10.000.000 (mười triệu) đồng;
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành các khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
8. Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 túi vải có chữ “NaRaYa”; 08 đoản kim loại, một đầu lục giác, một đầu mài nhọn; 01 con lân bằng kim loại màu vàng; 01 nón bảo hiểm màu xanh đen; 01 quần jean dài màu xanh đen; 01 áo sơ mi sọc caro đỏ trắng; 01 thanh kim loại hình trụ vuông, màu vàng; 02 thanh kim loại tròn, hình chữ L, trong có: 01 thanh được cuốn băng keo màu đen, 01 thanh được cuốn băng keo màu xanh; 03 biển số xe máy: 70G1-X, 63H6-X, 37E1-X; 03 kính chiếu hậu xe gắn máy, màu đen.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu: Honda, số loại: Wave, dung tích xilanh: 109, biển số: 59F2-X, số khung: RLHJA3920MY100131, số máy: JA39E-221361 (không gương, máy móc bên trong không kiểm tra); 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, số Imei: 355351085617775 (thực nhận điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, không kiểm tra được đời máy, không kiểm tra Imei do không có nguồn điện, Imei khay sim:...57178, Model A1784, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, số Imei: 357266093588735 (thực nhận điện thoại di động hiệu Iphone Max, không kiểm tra được đời máy, Imei do không có nguồn điện, Imei ở khay sim, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số Imei: 355827091539160 (không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số Imei: 355776102421076 (không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 10, số Imei: 358777102407047 (thực nhận Samsung, không kiểm tra đời máy do không có nguồn điện, số Imei: 358777102407047, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).
- Chuyển lưu theo hồ sơ vụ án đối với 04 USB.
(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2023/074 ngày 12/12/2022 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).
- Buộc bị cáo Huỳnh Trung L1 phải nộp số tiền 5.500.000 (năm triệu năm trăm ngàn) đồng để nộp vào ngân sách nhà nước. Ghi nhận bị cáo Lương đã nộp đủ (theo Biên lai thu tiền số 04363 ngày 23/3/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).
Bị cáo Nguyễn Hồ Minh H phải nộp lại số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Minh Th phải nộp 1.075.000 (một triệu không trăm bảy mươi lăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm; bị cáo Trần Ngọc Thùy L phải nộp 1.075.000 (một triệu không trăm bảy mươi lăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án về tội trộm cắp tài sản số 352/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 352/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 26/07/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về