TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 340/2023/HS-PT NGÀY 26/09/2023 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 302/2023/TLPT-HS ngày 29/8/2023 đối với bị cáo Nguyễn Hoàng T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 165/2023/HS-ST ngày 20/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh,Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Hoàng T; giới tính: Nam; sinh năm 1986, tại Long An; nơi đăng ký thường trú: Tổ C, ấp N, xã P, huyện C, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Tấn H, sinh năm 1962 và bà Ngô Thị B, sinh năm 1965; vợ, con: Chưa có;
Tiền án: Bản án số 107/2020/HS-ST ngày 28/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/3/2021;
Tiền sự: Ngày 09/5/2022 bị Công an xã P, huyện C, tỉnh Long An quyết định xử phạt vi phạm hành chính vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy;
Nhân thân:
+ Bản án số 313/2015/HSST ngày 29/12/2015 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong bản án ngày 20/12/2019;
+ Bản án số 29/2023/HSST ngày 16/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/6/2023.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 22/06/2023. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 14 giờ 47 phút ngày 27/7/2022, Nguyễn Hoàng T điều khiển xe mô tô biển số 62L1-703.xx đến tiệm tạp hóa của chị Lê Thị Thu T1 tại địa chỉ: Nhà không số, Tổ D, Ấp C, xã H, huyện B, T phát hiện trong tiệm tạp hóa không có người trông coi nên T đi vào bên trong tiệm tạp hóa, dùng 02 tay ôm 03 thùng bia hiệu Tiger xanh để lên xe mô tô của T thì bị chị T1 phát hiện, tri hô. T khởi động xe, bỏ chạy về hướng chợ H1 thì bị chị T1 kéo lại và dùng hai tay kéo phía sau xe của T, T gạt tay chị T1 ra làm rơi 02 thùng bia xuống đất, còn lại 01 thùng bia, T chở bỏ chạy. Sau đó T đem bán 01 thùng bia trên cho 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) với giá 300.000 đồng. Bị mất tài sản nên chị T1 đến Công an xã H, huyện B trình báo. Vụ việc sau đó được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B điều tra xử lý.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Nguyễn Hoàng T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai người bị hại, tang vật thu giữ, phù hợp với biên bản mô tả lại hành vi trộm cắp tài sản cùng các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án (Bút lục 19-36, 45-75, 93- 127).
Bản kết luận định giá tài sản số 3248/KL-HĐĐGTS ngày 11/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, kết luận: 03 thùng bia hiệu Tiger xanh, loại 24 lon, trị giá 1.095.000 đồng (Bút lục 19-22).
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 165/2023/HS-ST ngày 20/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo: Nguyễn Hoàng T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/6/2023.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, xử lý vật chứng và thời hạn kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 31/7/2023 bị cáo Nguyễn Hoàng T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hoàng T khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với bản án sơ thẩm đã nêu và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, với lý do bản án sơ thẩm xử bị cáo hình phạt 01 năm 06 tháng tù là quá nặng, vì sau khi phạm tội bị cáo đã ra công an xã đầu thú, gia đình bị cáo đã bồi thường cho chị T1 và chị T1 đã bãi nại cho bị cáo.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố sau khi tóm tắt nội dung vụ án, phân tích về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo, cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã kết luận đủ căn cứ xác định bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Hoàng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có cơ sở pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định và hợp lệ nên cần được xem xét.
Bị cáo Nguyễn Hoàng T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng tại phiên tòa phúc thẩm không cung cấp tài liệu hay chứng cứ thể hiện có tình tiết giảm nhẹ mới; các tình tiết mà bị cáo nêu ra trong lý do kháng cáo đã được cấp sơ thẩm điều tra, làm rõ là bị cáo bị cơ quan công an mời lên làm việc chứ không phải bị cáo ra đầu thú, bị hại không bãi nại cho bị cáo. Vì vậy mức hình phạt 01 năm 06 tháng mà cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng T và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận và nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Trong quá trình điều tra và và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu, từ đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Bị cáo Nguyễn Hoàng T có hành vi lén lút lấy trộm 03 thùng bia hiệu Tiger xanh, loại 24 lon, của chị Lê Thị Thu T1 tại địa chỉ Nhà không số, Tổ D, Ấp C, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, tuy trị giá 1.095.000 đồng nhưng bị cáo đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích mà còn tiếp tục vi phạm, hành vi trên của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bản án sơ thẩm số 165/2023/HS- ST ngày 20/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử bị cáo Nguyễn Hoàng T về tội danh, điều luật như trên là hoàn toàn phù hợp.
Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo như: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản có giá trị không lớn, đã trả lại cho bị hại, nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt và xử bị cáo 01 năm 06 tháng tù là phù hợp, đã tương xứng với tính chất của hành vi phạm tội cũng như nhân thân xấu của bị cáo. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng T; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ khoản khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/6/2023.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tội trộm cắp tài sản số 340/2023/HS-PT
| Số hiệu: | 340/2023/HS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 26/09/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về