TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH
BẢN ÁN 31/2024/HS-ST NGÀY 26/03/2024 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Ngày 26 tháng 03 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định, mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 20/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST - HS ngày 19 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Anh T, sinh ngày 10/3/1975; nơi sinh: Phường M thành phố H tỉnh Hòa Bình; nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú: Kóm Đ, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 4/12; con ông Dương Xuân D và bà Hà Thị M (đã chết); Vợ Trương Thị H; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền án: Ngày 24/10/1998, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 08 năm tù về tội “Hiếp dâm”, bị cáo chưa thi hành khoản tiền bồi thường dân sự và án phí; Tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
Bị hại: Anh Trương Quang A (Có mặt).
Người làm chứng: Anh Đinh Văn V (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22h00’ ngày 20/9/2023, vợ chồng anh Trương Quang A đi tìm cháu Trương Quang P - là con trai đi chơi chưa về, anh Quang A có để một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7plus màu hồng, cắm sạc pin điện thoại ở trên gác xép nhà mình. Tại thời điểm này Dương Anh T ở nhà bên cạnh đang câu cá tại bờ sông thì nghe tiếng chuông điện thoại phát ra từ trong nhà anh Quang A, hồi chuông đầu không ai nghe, rồi tiếp tục đồ hồi chuông thứ hai thì T bỏ cần câu xuống bờ sông rồi đi về phía nhà anh Quang A, T quan sát không thấy ai ở trong nhà, cửa cổng, cửa nhà mở nên T đi qua cổng chính vào trong nhà và đi theo cầu thang lên gác xép thì nhìn thấy 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus màu hồng đang cắm sạc để trên tấm đệm đặt dưới sàn của gác xép, T đến cầm chiếc điện thoại lên, rút dây cắm sạc và cầm chiếc điện thoại đi ra ngoài bờ sông, lấy chiếc cần câu đi về nhà. Khoảng 22h 30’ cùng ngày anh Quang A về nhà và phát hiện chiếc điện thoại bị mất và có nghi ngờ cho T. Khoảng 06h30’ ngày 21/9/2023, anh Quang A sang nhà T hỏi “Chú có nhặt được chiếc điện thoại của cháu hay thấy ai nhặt được chiếc điện thoại của cháu làm rơi không thì cho cháu xin lại”, nhưng T nói “Không biết”. Khoảng 08h10’ cùng ngày, T mang chiếc điện thoại Iphone 7plus đã trộm cắp được mang đến cửa hàng mua bán, sửa chữa điện thoại Bảo V1 do anh Đinh Văn V làm chủ và bán với giá 600.000 đồng. Anh Trương Quang A nghi ngờ T lấy chiếc điện thoại di động của mình nên nhiều lần hỏi T. Khoảng 11h 30’ cùng ngày, T khai nhận và cùng anh Trương Quang A đến cửa hàng mua bán, sửa chữa điện thoại di động Bảo V1, gặp anh V để mua lại chiếc điện thoại với giá 700.000 đồng . Ngày 23/9/2023, anh Trương Quang A làm đơn tố giác và giao nộp chiếc điện thoại cho Công an xã Y giải quyết theo quy định.
Sau khi tiếp nhận nguồn tin báo, Công an xã Y đã tiến hành các thủ tục ban đầu. Sau đó chuyển hồ sơ đến cơ quan CSĐT Công an huyện Ý thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 25/10/2023, cơ quan CSĐT- Công an huyện Ý ra Yêu cầu định giá tài sản về chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7Plus 32gb màu hồng. Tại bản kết luận định giá tài sản số 50/DGTS ngày 01/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Ý kết luận “Giá trị 01 chiếc điện thoại di động iphone 7plus, màu hồng, dung lượng 32GB tại thời điểm xảy ra vụ việc ngày 20/9/2023 là 2.650.000 đồng”.
Ngày 04/12/2023, cơ quan CSĐT Công an huyện Ý ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự; Quyết định khởi tố bị can; Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Dương Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Về vật chứng vụ án: Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone 7Plus 32GB màu hồng đã qua sử dụng mà anh Trương Quang A tự giao nộp là vật chứng của vụ án, quá trình điều tra xác định là tài sản cá nhân của anh Trương Quang A, anh Quang A có đơn đề nghị trả lại tài sản nên cơ quan CSĐT Công an huyện Ý đã trả lại cho anh Trương Quang A theo quy định pháp luật.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Ý đã thu giữ của anh Đinh Văn V số tiền 700.000 đồng là số tiền anh Quang A bỏ ra mua lại chiếc điện thoại. Qua điều tra xác định số tiền trên liên quan đến vụ án, không phải là vật chứng nên ngày 08/10/2023 cơ quan CSĐT- Công an huyện Ý trả lại cho anh Trương Quang A. Anh Trương Quang A đã nhận lại số tiền và không có ý kiến gì khác.
Đối với hành vi của anh Đinh Văn V mua lại chiếc điện thoại của Dương Anh T do trộm cắp được với số tiền 600.000 đồng. Anh V không biết chiếc điện thoại do T phạm tội mà có. Do vậy, anh V không phạm tội “Tiêu thụ hoặc chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 BLHS nên cơ quan CSĐT Công an huyện Ý không xem xét trách nhiệm đối với anh Đinh Văn V.
Về trách nhiệm dân sự: Dương Anh T đã trả lại số tiền 600.000đ cho anh Đinh Văn V là số tiền T bán chiếc điện thoại di động trộm cắp được. Anh V đã nhận lại tiền, không có đề nghị gì khác.
Bản Cáo trạng số: 18/CT - VKS- YY ngày 31/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định truy tố Dương Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Dương Anh T khai nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên truy tố. Bị cáo khai nhận, ngày 24/10/1998 bị cáo bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 08 năm tù về tội “Hiếp dâm”, đến nay bị cáo chưa thi hành khoản tiền bồi thường dân sự và các khoản án phí. Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Bị hại có lời khai đã nhận lại được tài sản mà bị cáo chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện VKSND huyện Ý Yên trình bày luận tội giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng và đề nghị HDXX: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt Dương Anh T từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề tự do không có thu nhập ổn định nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Đã được xử lý tại Cơ quan Điều tra công an huyện Ý nên không đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết.
Về trách nhiệm dân sự: Dương Anh T đã trả lại số tiền 600.000 đồng là số tiền T bán chiếc điện thoại di động trộm cắp được cho anh Đinh Văn V. Anh V đã nhận lại tiền, không có đề nghị gì khác nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết.
Đối với hành vi của anh Đinh Văn V mua lại chiếc điện thoại của Dương Anh T. Anh V không biết chiếc điện thoại đó do T phạm tội mà có, cơ quan CSĐT Công an huyện Ý không xem xét trách nhiệm đối với anh V về tội “Tiêu thụ hoặc chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 BLHS là đúng theo quy định của pháp luật nên không đề nghị Hội đồng xét xử đề cập giải quyết.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ý Yên tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ để xác định: Vào khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 20/9/2023, Dương Anh T đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của anh Trương Quang A, lén lút vào nhà anh Trương Quang A ở xóm Đ, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định lấy đi 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone 7plus 32GB màu hồng là tài sản cá nhân của anh Trương Quang A. Giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt được Hội đồng định giá tài sản huyện Ý định giá và kết luận là 2.650.000 đồng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định truy tố là có căn cứ.
[3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự là tái phạm.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo đã làm mất niềm tin nơi thôn xóm, gây ảnh hưởng xấu đến phong trào bảo vệ an ninh trật tự trên địa bàn xã Y nói riêng và địa bàn huyện Ý nói chung vì vậy cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do không có thu nhập ổn định, vì vậy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng của vụ án: Đã được xử lý tại cơ quan Điều tra nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và anh Đinh Văn V không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[8] Đối với hành vi của anh Đinh Văn V mua lại chiếc điện thoại của Dương Anh T do trộm cắp được với số tiền 600.000 đồng. Anh V không biết chiếc điện thoại đó do T phạm tội mà có. Do vậy, anh V không phạm tội “Tiêu thụ hoặc chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 BLHS, cơ quan CSĐT Công an huyện Ý không xem xét trách nhiệm đối với anh V là đúng với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[9] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[10] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Dương Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Dương Anh T 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Dương Anh T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về tội trộm cắp tài sản số 31/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 31/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện ý Yên - Nam Định |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 26/03/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về