TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TC, TỈNH AG
BẢN ÁN 27/2023/HS-ST NGÀY 24/02/2023 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Trong ngày 24 tháng 02 năm 2023, tại Ủy ban nhân dân xã CP, thị xã TC, tỉnh AG. Tòa án nhân dân thị xã TC xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 1 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2023/QĐXXST-HS ngày 09/2/2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Chí Kh, ngày 05 tháng 6 năm 1993; Nơi sinh: AG; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú (chỗ ở hiện nay): Tổ 9, ấp PS, xã CP, thị xã TC, tỉnh AG; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Chăm; Tôn giáo: Đạo Hồi; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1971 (chết) và bà MAY SA M, sinh năm 1970; Bị cáo chưa có vợ con;
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 29/7/2022, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã CP, thị xã TC xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, chưa nộp phạt.
Bị cáo, bị tạm giam từ ngày 10/11/2022, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Đinh Văn B, sinh năm 1969; Địa chỉ: Ấp TH B2, xã LA, thị xã TC, tỉnh AG, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Bùi Duy K, sinh năm 1986; Địa chỉ: Ấp LH, xã LA, thị xã TC, tỉnh AG, vắng mặt;
- Anh Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1992; Địa chỉ: Ấp LH, xã LA, thị xã TC, tỉnh AG, vắng mặt;
- Anh Huỳnh Tấn C, sinh năm 1981; Địa chỉ: Ấp LH, xã LA, thị xã TC, tỉnh AG, vắng mặt;
- Vũ Duy B, sinh năm 1937; Địa chỉ: Số 54/34 ĐDA, phường 9, quận PN, thành phố HCM, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 11/10/2022, bị cáo Nguyễn Chí Kh rủ Bùi Duy K đi tìm tài sản lấy trộm, Khanh đồng ý, điều khiển xe môtô biển số 53R7-xxxx chở bị cáo Kh đi đến khu vực trước nhà máy xay lúa Đại Thành 3 thuộc ấp TH B2, xã LA, thị xã TC, tỉnh AG, bị cáo Kh nhìn thấy 01 xe đạp điện, không người trông giữ, bị cáo Kh kêu K ngừng xe lại, bị cáo Kh đi vào lấy trộm xe đạp điện chạy về hướng xã CP. K điều khiển xe môtô chạy đến để bị cáo Kh nắm vào xe K đang điều khiển kéo đi. Khi này, ông Đinh Văn B phát hiện mất xe, truy đuổi đến khu vực ấp VL 1, xã CP, thị xã TC, tỉnh AG, phát hiện, bắt giữ K cùng tang vật, trình báo công an. Riêng, bị cáo Kh bỏ trốn, đến ngày 10/11/2022, Công an xã LA mời làm việc, bị cáo Kh đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu.
Ngày 29/7/2022, bị cáo Nguyễn Chí K bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã CP xử phạt hành chính 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.
Ngày 10/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã TC, khởi tố, bắt tạm giam đối với Nguyễn Chí Kh, về tội: “Trộm cắp tài sản”.
Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:
- 01 xe môtô biển số 53R7-xxxx, đã qua sử dụng.
- 01 xe đạp điện màu tím-trắng, đã qua sử dụng (đã trao trả cho bị hại).
Kết luận định giá tài sản số 391/KL-HĐĐG.TTHS ngày 10/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản, trong tố tụng hình sự thị xã TC: 01 xe đạp điện, kiểu dáng nữ, màu sơn tím, bình điện màu trắng, có gắn giỏ phía trước màu trắng-đen, đã qua sử dụng, bình điện bị hư hỏng. Trị giá 800.000 (tám trăm nghìn) đồng.
Tại bản Cáo trạng số 06/CT-VKSTC-HS ngày 18 tháng 01 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã TC, tỉnh AG đã truy tố bị cáo Nguyễn Chí Kh về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Bị hại ông Đinh Văn B; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Bùi Duy Kh, anh Nguyễn Tấn Đ, anh Huỳnh Tấn C trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu. Ông Đinh Văn B đã nhận lại tài sản là xe đạp điện màu tím - trắng, không yêu cầu bị cáo Khang bồi thường thiệt hại Tại phiên tòa, bị cáo Kh khai hành lấy trộm tài sản của ông Đinh Văn B như đã trình bày giai đoạn điều tra, truy tố;
Phát biểu quan điểm luận tội, Kiểm sát viên giữ quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Chí Kh về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chí Kh từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu sung công quỹ 01 xe môtô biển số 53R7-xxxx.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông B; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Kh không yêu cầu bồi thường, nên không đề cập giải quyết.
Trong phần tranh luận, bị cáo Kh không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đồng ý theo Quyết định truy tố và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến khác.
Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Kh, không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Bị cáo Kh nói lời sau cùng, xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị cáo Nguyễn Chí Kh bị Cơ quan điều tra - Công an thị xã TC khởi tố về hành vi “Trộm cắp tài sản” xảy ra tại khu vực ấp TH B2, xã LA, thị xã TC, tỉnh AG nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã TC, tỉnh AG.
[2] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã TC, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã TC, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại nên về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[3] Sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh K, anh Đ, anh C, ông B đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.
- Về nội dung:
[1] Hành vi phạm tội:
Bị cáo Nguyễn Chí Kh khai nhận, do cần tiền tiêu xài và không có nghề nghiệp ổn định nên bị cáo Kh nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác, cụ thể:
Khoảng 10 giờ ngày 11/10/2022, bị cáo Nguyễn Chí Kh rủ Bùi Duy K đi tìm tài sản lấy trộm, K đồng ý, điều khiển xe môtô biển số 53R7-xxxx chở bị cáo Kh đi đến khu vực trước nhà máy xay lúa Đại Thành 3 thuộc ấp TH B2, xã LA, thị xã TC, tỉnh AG, bị cáo Kh nhìn thấy 01 xe đạp điện, không người trông giữ, bị cáo Kh kêu K ngừng xe lại, bị cáo Kh đi vào lấy trộm xe đạp điện chạy về hướng xã CP. K điều khiển xe môtô chạy đến để bị cáo Kh nắm vào xe K đang điều khiển kéo đi. Khi này, ông Đinh Văn B phát hiện mất xe, truy đuổi đến khu vực ấp VL 1, xã CP, thị xã TC, tỉnh AG, phát hiện, bắt giữ K cùng tang vật, trình báo công an.
Lời khai của bị cáo Kh có lấy trộm 01 xe đạp điện, kiểu dáng nữ, màu sơn tím, bình điện màu trắng, có gắn giỏ phía trước màu trắng - đen, bình điện bị hư hỏng (đã qua sử dụng) của ông Đinh Văn B phù hợp với lời khai ông Đinh Văn B; phù hợp lời khai người người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án; phù hợp biên bản tiếp nhận tin báo về tội phạm ngày 11/10/2022 do Công an xã LA lập và các chứng cứ được thể hiện trong hồ sơ vụ án.
Ngày 29/7/2022, bị cáo Kh đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã CP, thị xã TC xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, chưa nộp phạt nhưng bị cáo Kh tiếp tục có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) xe đạp điện, kiểu dáng nữ, màu sơn tím, bình điện màu trắng, có gắn giỏ phía trước màu trắng - đen, bình điện bị hư hỏng (đã qua sử dụng). Giá trị còn lại, trị giá: 800.000 đồng là xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác.
An ninh trật tự là vấn đề đặc biệt và cần quan tâm, mọi người cùng nhau giữ gìn trật tự chung ở địa phương, bảo vệ tài sản của nhau.
Tài sản của ông Đinh Văn B thuộc quyền sở hữu của ông B, bất kỳ ai xâm hại sẽ bị xử lý theo pháp luật.
Bị cáo Kh có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý.
Đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng số 06/CT-VKSTC-HS ngày 18/1/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã TC truy tố hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Chí Kh là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Chí Kh là thanh niên có sức khỏe, có khả năng lao động. Lẽ ra, bị cáo phải tích cực lao động để tạo thu nhập để chi phí cho bản thân và phụ giúp gia đình. Ngược lại, bị cáo lợi dụng sự sơ hở của người khác để chiếm đoạt tài sản một cách trái pháp luật.
[2] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng: không.
- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Chí Kh có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, bị cáo có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế là tình tiết giảm nhẹ theo quy định theo quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự như quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát.
[3] Hình phạt:
- Về hình phạt chính: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nhưng nhân thân xấu. Xét, phải có mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo với bên ngoài xã hội trong thời gian nhất định để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn.
Xét, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng: 01 (một) xe môtô biển số 53R7-xxxx K là người quản lý hợp pháp, sở hữu hợp pháp, K sử dụng xe môtô nêu trên để chở bị cáo Kh đi tìm tài sản lấy trộm. Xét, tịch thu sung ngân sách nhà nước.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Điều tra - Công an thị xã TC với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã TC, ngày 09/02/2023).
Đối với 01 (một) xe đạp điện, kiểu dáng nữ, màu sơn tím, bình điện màu trắng, có gắn giỏ phía trước màu trắng-đen, bình điện bị hư hỏng (đã qua sử dụng), bị hại đã nhận lại giai đoạn điều tra nên không xem xét giải quyết.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Ông Đinh Văn B, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Những vấn đề khác: Bùi Duy K, nhân thân chưa bị kết án, chưa bị xử phạt về hành vi chiếm đoạt tài sản, cùng bị cáo Nguyễn Chí Kh thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có giá trị chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra đã chuyển xử lý hành chính là có căn cứ.
[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Chí Kh phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 38 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí Kh phạm tội "Trộm cắp tài sản";
Xử ph ạt Bị cáo Nguyễn Chí Kh 01 (một) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày tạm giam 10/11/2022 (ngày mười, tháng mười một, năm hai nghìn không trăm hai mươi hai).
Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 47; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe môtô biển số 53R7-xxxx (đã qua sử dụng);
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Điều tra - Công an thị xã TC với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã TC, ngày 09/02/2023).
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 333, Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo Nguyễn Chí Kh phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh AG xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án về tội trộm cắp tài sản số 27/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 27/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thị xã Tân Châu - An Giang |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 24/02/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về