TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH Đ
BẢN ÁN 249/2023/HS-ST NGÀY 31/05/2023 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Ngày 31 tháng 5 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 250/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 235/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo: Mạnh Xuân H, sinh năm 1975 tại H1 (có mặt); Nơi cư trú: Xóm 6, thị trấn N, huyện C, tỉnh H1; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam, con ông Mạnh Xuân T, sinh năm 1945 và bà Trần Thị L, sinh năm 1941; vợ Phan Thị D, sinh năm 1977, có 02 con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2011.
Tiền án:
- Bản án số: 86/2018/HS-ST ngày 15/03/2018, Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ xử phạt 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 25/06/2018 (chưa được xóa án tích).
- Bản án số: 262/2018/HS-ST ngày 08/08/2018, Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 25/06/2019 (chưa được xoá án tích).
- Bản án số: 658/2020/HS-ST ngày 30/11/2020, Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ xử phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Chấp hành xong án phạt tù ngày 08/09/2021 (chưa được xoá án tích).
Tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 11/01/2023, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số: 196 ngày 17/01/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
- Bị hại: Ông Phạm Quốc C1, sinh năm 1974 (vắng mặt).
Địa chỉ: 93/47, tổ 36, khu phố 8, phường T2, thành phố B, tỉnh Đ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Vũ B1, sinh năm 1991 (vắng mặt).
Địa chỉ: Lô 86, khu phố 8A, phường T1, thành phố B, tỉnh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Mạnh Xuân H, sinh năm 1975, cư ngụ tại thị trấn N, huyện C, tỉnh H1, là người có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Vào khoảng 13 giờ 20 phút ngày 11 tháng 01 năm 2023, Mạnh Xuân H đi bộ đến đoạn đường phía trước số nhà 93/47, tổ 36, khu phố 8, phường T2, thành phố B (đây là địa chỉ nhà của gia đình ông Phạm Quốc C1, sinh năm 1974), thấy trong sân nhà ông C1 có dựng 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, biển số 60F1-xxxxx, chìa khóa còn cắm trên ổ khóa xe, cổng nhà khép hờ không khóa. Mạnh Xuân H quan sát thấy không có người trông coi nên đẩy cửa đi vào trong sân để trộm cắp xe, khi H1 vừa gạt cH1 chống và dắt xe đi thì bị ông Phạm Quốc C1 đứng trong nhà nhìn thấy chạy ra, truy hô. Bị phát hiện, Mạnh Xuân H bỏ lại xe và chạy bộ trên đường, ông C1 vừa đuổi theo vừa truy hô trộm, H1 chạy bộ được khoảng 01km thì chạy vào bụi chuối bên ven đường để lẩn trốn, thì bị ông C1 và người dân bắt giữ giao Mạnh Xuân H cùng tang vật là xe mô tô biển số 60F1-xxxxx cho Công an phường T2, thành phố B lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, Mạnh Xuân H khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của Mạnh Xuân H phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập theo quy định của pháp luật.
Vật chứng thu giữ:
- 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 60F1-xxxxx; số máy: HC 12E5689849, số khung: 1216DY689801 (đây là tài sản hợp pháp của ông Phạm Quốc C1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trao trả chủ sở hữu).
- 01 USB màu bạc, loại 32BG bên trong chứa đoạn video, liên quan đến việc Mạnh Xuân H trộm cắp tài sản của ông Phạm Quốc C1 vào ngày 11/01/2023 (được chuyển kèm theo hồ sơ vụ án).
Kết luận định giá tài sản số: 14/KL-HĐĐGTS ngày 13/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận về giá của tài sản như sau: 01 (một) xe mô tô biển số 60F1-839.xx, trị giá 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) vào thời điểm định giá tháng 01 năm 2023.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Phạm Quốc C1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.
Bản cáo trạng số: 264/CT-VKSBH ngày 05/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo Mạnh Xuân H về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173;
điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Mạnh Xuân H từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Phạm Quốc C1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết lỗi của bị cáo. Mong Hội đồng xét xử xem xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời khai của bị hại, các chứng cứ khác có tại hồ sơ và cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố. Từ đó đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Mạnh Xuân H là người có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Vào lúc 13 giờ 20 phút ngày 11 tháng 01 năm 2023, tại địa chỉ số 93/47, tổ 36, khu phố 8, phường T2, thành phố B, tỉnh Đ, bị cáo Mạnh Xuân H có hành vi trộm cắp tài sản là xe mô tô biển số 60F1-839.xx, trị giá 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) của ông Phạm Quốc C1 thì bị bắt quả tang cùng tang vật.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 14/KL-HĐĐGTS ngày 13/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận về giá 3 của tài sản như sau: 01 (một) xe mô tô biển số 60F1-839.xx, trị giá 7.000.000 đồng vào thời điểm định giá tháng 01 năm 2023.
Hành vi của bị cáo Mạnh Xuân H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu ñeán traät töï trị an ở địa phương neân cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng: Không.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Phạm Quốc C1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6] Đối với xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 60F1-xxxxx; số máy: HC 12E5689849, số khung: 1216DY689801 do ông Lê Vũ B1 đứng tên chủ sở hữu mua vào tháng 8 năm 2015, đến năm 2018 đã bán lại cho ông Phạm Quốc C1, việc mua bán không lập giấy tờ.
[7] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Mạnh Xuân H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Mạnh Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Mạnh Xuân H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2023.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Mạnh Xuân H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự; người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án về tội trộm cắp tài sản số 249/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 249/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột - Đăk Lăk |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 31/05/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về