NỘI DUNG VỤ ÁNỘC, TỈNH HÀ TĨNH
BẢN ÁN 24/2024/HS-ST NGÀY 26/06/2024 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Ngày 26/6/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2024/TLST-HS ngày 07/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST- HS ngày 12/6/2024 đối với bị cáo: Bùi Văn H; Sinh ngày: 06/8/1993; Nơi sinh và nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Lê v bà Trần Thị V; Có vợ: Đặng Thị T và 01 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/4/2024 đến nay; Có mặt.
- Bị hại: Chị Võ Thị H1; Sinh năm 1982; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Xuân C; Sinh năm 1972; Nghề nghiệp: Sữa chữa xe máy; Địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 29/3/2024, chị Võ Thị H1 trình báo đến Công an xã T về việc bị mất trộm chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter biển kiểm soát 38N3-xxx vào ngày 26/3/2024.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C đã xác định được: Sáng ngày 26/3/2024, Bùi Văn H đi xe bus từ xã C, huyện Y, tỉnh Nghệ An về nhà tại xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh xuống xe tại điểm chờ xe bus rồi thuê xe ôm chở về nhà. Trên đường về, qua đoạn đường thôn T, xã T phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter biển kiểm soát 38N3-xxx chưa rút chìa khoá và không có người trông coi nên H nảy sinh ý định trộm cắp. Sau khi thanh toán tiền xe ôm, H đi bộ lại xe mô tô rồi nổ máy đi ra huyện Y, tỉnh Nghệ An. Trên đường đi, H thấy có cửa hàng mua bán xe máy cũ bên đường nên ghé vào. H nói với chủ quán (anh Phan Xuân C) đây là xe của mình, cần bán lấy tiền nhưng đi vội nên quên không đưa giấy tờ xe, anh C đồng ý mua xe với giá 4.500.000 đồng và đưa trước 1.500.000 đồng, số tiền còn lại H sẽ nhận khi giao đủ giấy tờ xe cho anh C. Đến ngày 31/3/2024, khi bị lực lượng chức năng triệu tập làm việc, H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã thu hồi được xe và trả lại cho bị hại.
Kết luận định giá tài sản số 04 ngày 04/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C xác định: Tại thời điểm bị chiếm đoạt, xe mô tô nhãn hiệu Jupiter Gravita biển kiểm soát 38N3-xxx của chị Võ Thị H1 trị giá 4.500.000 đồng.
Ngày 30/5/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C ban hành bản kết luận điều tra số 23 đề nghị Viện kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc truy tố Bùi Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Ngày 03/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc truy tố Bùi Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự tại Cáo trạng số 28/CT-VKS-CL.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắp xe mô tô Jupiter Gravita biển kiểm soát 38N3-xxx như Cáo trạng truy tố.
Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 32; Điều 38; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Văn H từ 06 đến 08 tháng tù; Trả lại chiếc áo khoác và số tiền đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Can Lộc cho bị cáo; Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp, tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Những người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên.
[2] Xét hành vi của bị cáo:
[2.1] Về tội danh: Việc bị cáo lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chị Võ Thị H1 để lén lút chiếm đoạt xe mô tô trị giá 4.500.000 đồng đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[2.2] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[2.3] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo đơn giản, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn, bị hại đã được nhận lại tài sản, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Mặt khác bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, thấp hơn mức Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp.
[3] Xét hành vi của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Quá trình thực hiện giao dịch mua bán xe mô tô biển kiểm soát 38N3-xxx với bị cáo thì anh Phan Xuân C không biết chiếc xe mô tô này là tài sản do H trộm cắp. Vì vậy, không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh Phan Xuân C.
[4] Về xử lý vật chứng, tài sản: Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C trả lại xe mô tô cho bị hại Võ Thị H1 là đúng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Giao dịch mua bán xe giữa bị cáo và anh Phan Xuân C vô hiệu do anh C bị lừa dối. Do đó, bị cáo phải hoàn trả số tiền đã nhận cho anh C. Tuy nhiên, anh C từ chối nhận lại số tiền này nên trả lại cho bị cáo số tiền mà bị cáo đã tự nguyện nộp lại trong giai đoạn điều tra và chiếc áo khoác của bị cáo là phù hợp.
[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 32; Điều 38; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” Xử phạt bị cáo Bùi Văn H: 05 tháng tù, thời hạn tù kể từ ngày 11/4/2024.
Về xử lý vật chứng, tài sản: Trả lại cho Bùi Văn H số tiền 1.500.000 đồng và 01 chiếc áo khoác đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Can Lộc. Tình trạng đặc điểm vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 07/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Can Lộc Về án phí: Bị cáo Bùi Văn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo và bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Bản án về tội trộm cắp tài sản số 24/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 24/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Lộc Hà - Hà Tĩnh |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 26/06/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về