TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
BẢN ÁN 238/2022/HS-ST NGÀY 24/08/2022 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Ngày 24 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 237/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 246/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị P, sinh năm 1970; HKTT và nơi cư trú: số A, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn C (đã chết) và bà: Tường Thị T (sinh năm 1936); Có chồng là Nguyễn Tiến L1 (sinh năm 1967) và có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2008; Danh chỉ bản số 341, lập ngày 02/6/2022 tại Công an quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội; Tiền án: Bản án số 66/2017/HSST ngày 22/3/2017 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời hạn thử thách là 36 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản (chưa được xóa án tích); Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 30/5/2022; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 công an thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Chị Vũ Thị Phương L, sinh năm 1994; Nơi cư trú: số B, ngõ L, phường V, quận H, thành phố Hà Nội (xin vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 30/5/2022, Nguyễn Thị P điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 29M1-xxxxx đi vào khu vực chợ ngõ 293, đường Tam Trinh, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Khi đi đến số nhà 29, ngõ 293 nêu trên, P nhìn thấy chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen, biển kiểm soát 18F1-357.43 của chị Vũ Thị Phương L dựng dưới lòng đường. P nhìn thấy bên trong hộc để đồ phía sau cánh yếm trái có để một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu xanh. Do thấy chị L đứng cạnh xe máy đang quay người về phía sạp hàng nên P đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. P điều khiển xe máy của mình đi đến áp sát, rồi dùng tay phải lấy chiếc điện thoại di động để trong hộc đồ xe máy của chị L. Sau đó P chuyển điện thoại sang cầm ở tay trái rồi điều khiển xe máy rời đi. Khi đi được khoảng 15m, P dùng tăm tháo thẻ sim rồi cất chiếc điện thoại trộm cắp được vào trong túi, còn thẻ sim P vẫn cầm ở bàn tay trái. Sau khi mua đồ xong, chị Vũ Thị Phương L quay lại thì thấy mất chiếc điện thoại của mình để ở hộc xe máy nên đã kiểm tra nhờ máy ghi hình tại nhà số 29, ngõ 293, đường Tam Trinh và thấy ghi lại hình ảnh Nguyễn Thị P lấy chiếc điện thoại. Tiếp đó, chị L đi tìm quanh chợ và thấy P đang đứng trước nhà số 6, ngõ 293, đường Tam Trinh, trong túi P có chiếc điện thoại chị L vừa bị mất nên đưa P đến cơ quan công an trình báo sự việc. Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ ban đầu thu thập được, cơ quan điều tra đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thị P để xác minh làm rõ sự việc.
Vật chứng của vụ án đã thu giữ gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, màu xanh, bản 128 GB, Imei1: 356695110074355, Imei2: 356695110373484 và 01 xe máy nhãn hiệu Honda Lead màu bạc, biển kiểm soát 29M1-xxxxx, số khung LWBTDH10171042198, số máy WH150MH07K04226 (điện thoại và xe máy đều đã qua sử dụng).
Cơ quan điều tra đã yêu cầu định giá tài sản đối với tài sản bị chiếm đoạt là chiếc điện thoại di động đã thu giữ. Tại Kết luận định giá tài sản số 93/KL- HĐĐGTS ngày 22/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hoàng Mai kết luận: 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 12 Pro 128GB màu xanh, Imei1: 356695110074355, Imei2: 356695110373484 đã qua sử dụng, có trị giá 15.000.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã thu giữ đoạn hình ảnh do máy ghi hình tại số nhà 29, ngõ 293, đường Tam Trinh, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, Hà Nội ghi lại được. Nguyễn Thị P đã được xem lại và xác nhận hình ảnh người thực hiện hành và trộm cắp trong video là P.
Kết qủa thực nghiệm điều tra, Nguyễn Thị P đã thực hiện lại hành vì trộm cắp của mình phù hợp với lời khai và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ.
Ngày 05/6/2022 cơ quan Cảnh sát điều tra công an quận Hoàng Mai đã trả lại chị Vũ Thị Phương L chiếc điện thoại di dộng bị chiếm đoạt đã thu giữ nêu trên, chị L nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì về bồi thường dân sự.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead, màu bạc, biển kiểm soát 29M1-xxxxx đã thu giữ của P, P khai mua lại của anh Nguyễn Đức D, sinh năm 1965, trú tại số A tập thể M, phường M, quận H, Hà Nội. Anh D trình bày đã mua xe trên từ tháng 12/2021 của một người không quen biết đến bán xe kèm theo đăng ký xe mang tên Đoàn Thị N (địa chỉ: Xóm T, Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội). Sau đó anh D bán lại cho Nguyễn Thị P. Xác minh tại địa chỉ trên không xác định được người có tên Đoàn Thị N trên địa bàn. Kết quả tra cứu chiếc xe trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Cơ quan điều tra đã đăng trên phương tiện thông tin đại chúng để xác minh chủ sở hữu xe trên nhưng đến nay chưa có kết quả. Ngày 21/7/2022 cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách tài liệu liên quan đến chiếc xe máy trên để tiếp tục điều tra làm rõ.
Tại Bản cáo trạng số 232/CT-VKS-HM ngày 01 tháng 8 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố Nguyễn Thị P về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Thị P khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp chiếc điện thoại của chị L như nội dung cáo trạng đã truy tố và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai tham gia phiên tòa sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Thị P từ 14 tháng đến 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về gia đình và hòa nhập xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàng Mai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng; tang vật thu giữ; bản kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 30/5/2022 tại trước số nhà 29, ngõ 293, đường Tam Trinh, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, Nguyễn Thị P đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, 128GB, màu xanh, Imei1: 356695110074355, Imei2: 356695110373484 của chị Vũ Thị Phương L, trị giá 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Nguyễn Thị P có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an và an toàn xã hội, gây tâm lý lo lắng, bất bình trong nhân dân. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu tài sản để lén lút trộm cắp tài sản. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thị P có 01 tiền án, đó là ngày 22/3/2017 bị Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời hạn thử thách là 36 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án hình sự sơ thẩm số 66/2017/HSST. Theo Biên bản xác minh ngày 30/5/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàng Mai thì bị cáo P chưa nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và truy nộp sung công quỹ nhà nước 3.000.000 đồng của bản án trên. Do vậy, bị cáo chưa được xóa án tích đối với bản án trên, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị P thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về quyết định hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm mục đích cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và đảm bảo công tác đấu tranh phòng ngừa chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Nguyễn Thị P là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Vũ Thị Phương L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị P bồi thường gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.
[8] Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead, màu bạc, biển kiểm soát 29M1-xxxxx đã thu giữ của P. Quá trình điều tra, P khai mua lại của anh Nguyễn Đức D. Anh D trình bày đã mua chiếc xe của một người không quen biết kèm theo đăng ký xe mang tên Đoàn Thị N và đã bán lại cho Nguyễn Thị P. Qua xác minh không xác định được người có tên Đoàn Thị N. Kết quả tra cứu chiếc xe máy trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Cơ quan điều tra đã đăng trên phương tiện thông tin đại chúng để xác minh chủ sở hữu xe trên nhưng đến nay chưa có kết quả. Ngày 21/7/2022 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai đã ra Quyết định số 18/QĐ-ĐTTH tách tài liệu liên quan đến chiếc xe máy trên để tiếp tục điều tra làm rõ, nên Hội đồng xét xử không xét.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Căn cứ các điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/5/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thị P.
3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Vũ Thị Phương L đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thị P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án về tội trộm cắp tài sản số 238/2022/HS-ST
| Số hiệu: | 238/2022/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Quận Hoàng Mai - Hà Nội |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 24/08/2022 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về