Bản án về tội trộm cắp tài sản số 23/2025/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 23/2025/HS-ST NGÀY 15/01/2025 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 15 tháng 01 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 394/2024/TLST-HS, ngày 17 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 366/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Hồng P; Giới tính: Nam; Sinh năm 2000 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: 385/9 đường N, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần P và bà Phan Thị Thúy N; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 22/8/2022, Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè xử phạt 01 năm 3 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số: 49/2022/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/6/2023, chưa xóa án tích.

Nhân thân: Ngày 29/7/2024, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh ban hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 796/QĐ-TA.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/10/2024 (có mặt) * Bị hại: Bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1974 Nơi cư trú: A7/22X5 đường Quốc Lộ 50, Ấp 2, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 19/5/2024, bị cáo Trần Hồng P đến nhà của bà Nguyễn Thị Ngọc L tại số A7/22X5, Quốc lộ 50, ấp 2, xã B, huyện B để nhậu. Trong lúc nhậu, bị cáo đi vệ sinh thì nhìn trên bồn nước trong nhà vệ sinh của bà L có 04 chiếc bông tai và 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng, bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt rồi lấy các nữ trang trên cất giấu vào túi quần. Sau khi nhậu xong, bị cáo rời khỏi nhà bà L và đi tìm chỗ tiêu thụ số nữ trang trên. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, bị cáo đang đi bộ trên đường số 10, khu dân cư Bình Hưng (trước Uỷ ban nhân dân xã B) thì bị Tổ công tác 363 Công an huyện Bình Chánh mời về Công an xã B làm việc. Qua kiểm tra phát hiện trong túi quần phía sau bên trái bị cáo đang mặc có 04 chiếc bông tai và 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng mà bị cáo khai nhận lấy trộm tại nhà của bà Nguyễn Thị Ngọc L. Công an xã B lập hồ sơ và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh thụ lý theo thẩm quyền.

Kết luận định giá tài sản số 2272/KL-HĐĐGTS ngày 29/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Bình Chánh kết luận: 02 bông tai bằng kim loại màu vàng giống nhau, khối lượng 3,7422g, chứa thành phần kim loại chính là Đồng (Cu, hàm lượng 93,64%) trị giá 60.000 đồng; 01 bông tai bằng kim loại màu vàng hình bướm, khối lượng 0,8801g, chứa thành phần kim loại chính là Bạc (Ag, hảm lượng 99,03%) trị giá 30.000 đồng; 01 bông tai bằng kim loại màu vàng hình đồng tiền, khối lượng 1,3491g, chứa thành phần kim loại chính là Kẽm (Zn, hàm lượng 64,29% và Cu, hàm lượng 35,41%) trị giá 30.000 đồng;

01 nhẫn bằng kim loại màu vàng hình đồng tiền, khối lượng 2,8605g, có thành phần chính là Đồng (Cu, hàm lượng 99,76%) trị giá 100.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 220.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Hồng P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ thu thập được.

Cáo trạng số 07/CT-VKS-BC ngày 16/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

Bị cáo Trần Hồng P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố. Bị cáo thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo không tranh luận và lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù;

Về dân sự: Bà Nguyễn Thị Ngọc L đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

Về vật chứng: Đề nghị ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã trả lại tài sản bị chiếm đoạt cho bà Nguyễn Thị Ngọc L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được và kết quả tranh luận tại phiên tòa, có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo như sau:

Ngày 19/5/2024, tại nhà số A7/22X5 Quốc lộ 50, ấp 2, xã B, huyện B, bị cáo Trần Hồng P có hành vi lén lút chiếm đoạt 04 chiếc bông tai và 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng của bà Nguyễn Thị Ngọc L trị giá 220.000 đồng. Bị cáo đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa xóa án tích lại tiếp tục phạm tội.

Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Trần Hồng P đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị chiếm đoạt có giá trị không lớn nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị Ngọc L đã nhận lại 04 chiếc bông tai bằng kim loại màu vàng và 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng và không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

[5] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Trần Hồng P: 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/10/2024.

2. Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về án phí: Bị cáo chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

87
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội trộm cắp tài sản số 23/2025/HS-ST

Số hiệu:23/2025/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bình Chánh - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:15/01/2025
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về