Bản án về tội trộm cắp tài sản số 203/2023/HS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 203/2023/HS-ST NGÀY 30/11/2023 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 30 tháng 11 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 203/2023/TLST-HS ngày 03/11/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 203/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Lê Đức M - Sinh năm 2003; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã P, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa 12/12; Dân tộc: Kinh ; Giới tính: Nam ; Tôn giáo: Không; quốc tịch:Việt Nam; Con ông Lê Duy T -Sinh năm 1972 và con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1978; Gia đình bị cáo có hai chị em, bị cáo là con thứ hai ; Theo danh chỉ bản số 437 lập ngày 01/8/2023 của Công an huyện T, Thành phố Hà Nội, bị cáo: Chưa có tiền án, tiền sự;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/7/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an Thành phố H. “Có mặt”

2. Vũ Kiên C - Sinh năm 2004; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã P, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 12/12; Dân tộc: Kinh ; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Ngọc N -Sinh năm 1970 và con bà Lê Thị X, sinh năm 1976; Gia đình bị cáo có hai chị em, bị cáo là con thứ hai ; Theo danh chỉ bản số 438 lập ngày 01/8/2023 của Công an huyện T, Thành phố Hà Nội, bị cáo: Chưa có tiền án, tiền sự;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/7/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an Thành phố H. “Có mặt”

3. Dương Chiến C1 - Sinh năm 2000; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 858 quốc lộ 3, TDP N, phường C, TP S, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa 12/12; Dân tộc: Kinh ; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch:Việt Nam; Con ông Dương Đại B -Sinh năm 1970 và con bà Trần Thị A, sinh năm 1972; Gia đình bị cáo có hai anh em, bị cáo là con thứ hai; Theo danh chỉ bản số 448 lập ngày 04/8/2023 của Công an huyện T, Thành phố Hà Nội, bị cáo: Chưa có tiền án, tiền sự;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/7/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an Thành phố H. “Có mặt” - Bị hại: Chị Khuất Diễm Q - Sinh năm 2002; HKTT: Thôn B, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội. “Vắng mặt”.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Hà Văn S - Sinh năm: 1985, HKTT phường K, quận T, Hà Nội. “Vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do đã có một thời gian Lê Đức M thuê trọ tại địa chỉ số 6B, ngõ 83B, đường T, xã T, huyện T, Hà Nội sau đó chuyển đi. Biết tầng 1 khu trọ dùng làm nhà để xe chung, không có người trông coi nên sáng ngày 21/7/2023 Lê Đức M và Vũ Kiên C rủ nhau đến địa chỉ trên để trộm cắp xe máy bán lấy tiền ăn tiêu.

Khoảng 10h cùng ngày, M và C đi xe ôm từ khu trọ của mình ở số 30, ngõ 47/12, phường K, quận T, Hà Nội đến khu trọ số 6B, ngõ 83B, đường T sau đó M dùng vân tay mở khoá cổng để vào trong khu trọ nhưng không được nên M và C ngồi ngoài chờ có người ra, vào khu trọ sẽ tranh thủ đi vào. Đến khoảng 10h50 phút cùng ngày, thấy có người mở cổng khu trọ để đi ra thì Lê Đức M và Vũ Kiên C cũng đi vào trong khu trọ. Phát hiện chiếc xe mô tô Honda SH màu đen BKS: 29V5 - X của chị Khuất Diễm Q (sinh năm: 2002, HKTT: Thôn B, xã T, huyện T, Hà Nội) không khoá cổ, khóa càng, quan sát không thấy có người trông coi, M dắt chiếc xe máy trên ra dựng gần cổng khu trọ sau đó cả hai đi lên tầng hai ngồi chờ khi cơ hội thuận lợi để trộm cắp chiếc xe trên.

Khoảng 11 giờ 50 cùng ngày, thấy có 01 nam thanh niên từ ngoài mở cổng đi vào khu trọ, M và C đi xuống tầng 1. Sau đó, M giả vờ nghe điện thoại và đứng giữ cổng để người ra, vào tưởng M và C cùng là người trong khu trọ sẽ không đóng cổng lại. Thấy người thanh niên trên đã đi vào trong thang máy, M đi vào dắt chiếc xe Honda SH BKS: 29V5 - X ra khỏi cổng còn C đi theo sau và đóng cổng lại. Do không có chia khoá để khởi động xe nên M và C thay nhau đẩy chiếc xe mô tô trộm cắp trên ra đường sau đó thuê 01 người hành nghề xe ôm với giá 200.000 đồng để người này đẩy chiếc xe Honda SH BKS: 29V5 - X cùng M và C về phòng trọ số nhà 30, ngõ 47/12 phường K, quận T. Tiếp đó, M lên mạng xã hội thuê 01 thợ sửa khoá đến nhà trọ để đánh chia khoá xe Honda SH, BKS: 29V5 - X với giá 01 triệu đồng. M tiếp tục lên mạng xã hội tìm người nhận cầm cố xe máy không giấy tờ, kết quả tìm thấy thấy D Chiến Công có số điện thoại 0352050X nhận cầm cố xe nên M dùng số điện thoại 0387846X gọi đến số điện thoại 0352050X của C1 thì C1 gửi cho M số điện thoại: 0338841X của mình để M và C1 kết bạn Zalo. Do trước đó đã nghe trong hội nhóm nói đã cầm cố và mua bán một số xe M trộm cắp được mà có, thấy xe Honda SH BKS: 29V5 - X của M không có giấy đăng ký, nghĩ chiếc xe trên do M trộm cắp được, là “xe nhảy” nên C1 hỏi M “Ô lại là mày à” và “Lại nhảy đâu con SH đấy” thì M không trả lời nên C1 đã biết chắc chắn chiếc xe SH trên là xe do nhóm M đã trộm cắp mà có nên bảo M mang xe máy đến đầu ngõ 91 Cầu D, quận B, Hà Nội để xem xe và giao tiền.

Khoảng 14 giờ 30 cùng ngày, M và C mang chiếc xe máy Honda SH, BKS: 29V5 - X đến đầu ngõ 91 Cầu D, B, Hà Nội gặp Dương Chiến C1. Sau khi xem xét, thấy biển số xe là biển Hà Nội và là biển thật, M còn nói “anh cứ cầm nếu từ giờ đến 06 giờ tối mà em không gọi lại là coi như em bán đứt” nên Công nhận thức chắc chắn là xe trộm cắp, không có giấy tờ nên C1 chỉ đồng ý cầm cố xe với giá 20.000.000 đồng. M đồng ý thì C1 viết giấy ký gửi xe đưa cho M mà không cần hỏi giấy tờ của chiếc xe.

Khi thanh toán, do không có đủ tiền nên C1 đã hỏi vay anh Nguyễn Văn D1, SN 2001, HKTT: xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên là bạn mà C1 đã rủ đi cùng đến chỗ hẹn. D1 chuyển số tiền 20.000.000 đồng từ số tài khoản: 19037064715013 mang tên NGUYEN VAN D đến số tài khoản: 3610112003 của M. Hai số tài khoản trên cùng thuộc hệ thống Ngân hàng K (T).

Sau khi nhận số tiền 20.000.000 đồng, M chuyển hết số tiền trên sang số tài khoản 1023911499 ngân hàng V cũng của M. Tiếp đó, M chuyển số tiền 15.000.000 đồng vào tài khoản số: 660611068386 mang tên NGO DUC HIEU ngân hàng T để trả nợ cho anh Ngô Đức H1 (Sinh năm: 2006, HKTT: phường X, quận T, Hà Nội) và cho C 1.000.000 đồng. Số tiền 4.000.000 đồng còn lại, M và C cùng nhau ăn tiêu hết.

Sau khi nhận cầm cố xe Honda SH, BKS: 29V5-X, C1 mang xe về phòng trọ của D1 tại số 6, ngõ 91 đường C, phường C, quận B, Hà Nội để cất giữ. Đến 19h00 ngày 21/7/2023, không thấy M gọi điện lại như đã hẹn, hiểu là M đã bán đứt chiếc xe trên nên C1 lên mạng xã hội liên hệ qua tài khoản Facebook tên “H” sau đó đến khu vực đối diện Cổng chính Công viên C, phường D, quận C, Hà Nội bán chiếc xe Honda SH, BKS: 29V5-X cho anh Hà Văn S (Sinh năm: 1985, HKTT phường K, quận T, Hà Nội) với giá 25.500.000 đồng. Khi bán, C1 đã nói với anh S chiếc xe SH trên là do khách đến cầm cố nhưng quá hạn không đến lấy xe, giao cho anh S giấy ký gửi của chiếc xe mang tên Lê Đức M và cam đoan chiếc xe trên không phải do phạm tội mà có. Sau khi bán xe, C1 đã trả cho D1 20.000.000 đồng vay trước đó và cho thêm D1 02 triệu đồng, số tiền 3.500.000 đồng còn lại C1 đã tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi mua xe, anh Hà Văn S điều khiển xe về nhà tại địa chỉ 116, ngõ 165 đường C, phường D, quận C, Hà Nội sau đó mang xe đi bảo dưỡng và dùng để làm phương tiện đi lại. Đến ngày 25/7/2023, C1 gọi điện cho anh S báo chủ xe muốn chuộc xe. Anh S đồng ý và yêu cầu chuộc xe với giá 30.000.000 đồng và báo C1 cần gì thì liên hệ với anh Nguyễn Văn T1 (sinh năm: 2004, HKTT: thôn T, xã N, huyện T, Thái Bình) là nhân viên của S và cho địa chỉ nhà mình để chủ xe đến chuộc xe. Đến ngày 03/8/2023, khi Cơ quan Công an đến làm việc, biết chiếc xe mô tô xe Honda SH, BKS: 29V5-X là tài sản do M, C trộm cắp được mà có, anh S đã tự nguyện giao nộp chiếc xe trên cùng 01 giấy tờ ký gửi chiếc xe cho Cơ quan Công an.

Sau khi bị mất trộm chiếc xe máy Honda SH biển kiểm soát 29V5 - X, ngày 22/07/2023 chị Khuất Diễm Q đã đến Công an xã T trình báo và giao nộp 01 USB bên trong có 01 file video ghi lại nội dung sự việc.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã ra Yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe máy là tang vật của vụ án. Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 109/KL-HĐĐGTS ngày 27/07/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: “01 xe máy nhãn hiệu Honda SH150, biển số 29V5 - X, đã qua sử dụng có giá trị: 50.305.800 đồng”.

Tại bản cáo trạng số 190/CT-VKS-TT ngày 01/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố Lê Đức M và Vũ Kiên C về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, truy tố Dương Chiến C1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi đúng như cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát đưa ra các tài liệu, chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố. Đề nghị HĐXX tuyên bị cáo Lê Đức M, Vũ Kiên C phạm tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo Dương Chiến C1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 47 của Bộ luật hình sự đối với Lê Đức M và Vũ Kiên C Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Đức M 28-30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 56-60 tháng kể từ ngày tuyên án.

Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Kiên C 28-30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 56-60 tháng kể từ ngày tuyên án Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 47 của Bộ luật hình sự đối với Dương Chiến C1.

Đề nghị xử phạt bị cáo Dương Chiến C1 08-10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16-20 tháng kể từ ngày tuyên án Giao các bị cáo Lê Đức M, Vũ Kiên C về UBND xã P, huyện H, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Giao bị cáo Dương Chiến C1 về UBND phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có việc làm ổn định, đề nghị không áp dụng đối với các bị cáo. Về vật chứng: Đề nghị sung công 01 chiếc điện thoại Iphone 11 Promax, số Imei: 352841111940028, có sim số: 0387846X thu giữ của M và 01 chiếc điện thoại Samsung A12 thu giữ của C1 là tài sản cá nhân của M và C1, đã sử dụng vào việc phạm tội. Trả lại 01 chiếc điện thoại Vsmart Joy3, số Imei: 351726117387089, có sim số: 0335418759 thu giữ của C là tài sản cá nhân của C để liên lạc hàng ngày không liên quan việc phạm tội. Tiếp tục lưu kèm hồ sơ vụ án 01 USB bên trong chứa video hình ảnh nội dung vụ việc đã thu giữ là tài liệu chứng cứ vụ án.Quá xác minh, tang vật của vụ án chiếc xe Honda SH BKS: 29V5 - X thuộc sở hữu của chị Khuất Diễm Q. Ngày 25/8/2023, Cơ quan Điều tra đã trả lại cho chị Q, chiếc xe máy trên. Quá trình điều tra, gia đình C và M bồi thường cho chị Q số tiền 30.000.000 đồng. Bị hai nhận xe và tiền bồi thường, không yêu cầu về dân sự và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt đối với Lê Đức M và Vũ Kiên C.Quá trình điều tra xác định khi cho D Chiến Công vay tiền để nhận cầm cố xe, anh Nguyễn Văn D1 không biết chiếc xe máy cầm cố là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Điều tra không có căn cứ xử lý. Anh Hà Văn S khai khi mua chiếc xe mô tô Honda SH BKS: 29V5 - X của Dương Chiến C1, anh S không biết là tài sản do phạm tội mà có. Khi biết nội dung vụ việc anh S đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an chiếc xe máy trên. Quá trình điều tra, Dương Chiến C1 đã bồi thường cho anh S số tiền 25.500.000 đồng. Anh S nhận tiền bồi thường, không yêu cầu về dân sự và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho D Chiến Công.

Quá trình điều tra xác định người xe ôm và thợ sửa khóa mà M, C đã thuê đẩy xe, đánh mới chìa khóa không biết xe máy là tài sản do phạm tội mà có. Anh Ngô Đức H1 khai không biết số tiền M trả nợ cho H1 là tiền do phạm tội mà có, sau đó gia đình M và C đã bồi thường cho bị hại nên Cơ quan Điều tra không có căn cứ xử lý đối với người xe ôm, thợ sửa khóa và anh H1.

Nói lời sau cùng các bị cáo nhận thấy việc làm của bản thân là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ân hận, mong Hội đồng xét xử xem xét mở lượng khoan hồng cho bị cáo mức án nhẹ nhất cải tạo ngoài xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về cơ quan và người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và hình phạt: Tại cơ quan điều tra và phiên tòa các bị cáo khai nhận vào khoảng 11 giờ 50 phút ngày 21/07/2023, tại khu trọ số 6B, ngõ 83B, đường T, xã T, huyện T, Hà Nội, Lê Đức M và Vũ Kiên C đã trộm cắp của chị K Diễm Quỳnh 01 chiếc xe mô tô Honda SH màu đen, BKS: 29V5- X trị giá 50.305.800 đồng.

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 21/7/2023, tại đầu ngõ 91 C, quận B, Hà Nội, M và C đã bán chiếc xe trên cho D Chiến Công với giá 20.000.000 đồng. Khi mua xe, Công nhận thức được chiếc xe trên là tài sản do phạm tội mà có tuy nhiên vẫn mua để bán lại kiếm lời. Sau khi có được xe đến khoảng 19h cùng ngày 21/7/2023, tại Cổng chính Công viên C, phường D, quận C, Hà Nội, C1 đã bán chiếc xe trên cho anh Hà Văn S với giá 25.500.000 đồng, thu lời số tiền 5.500.000 đồng. Khi mua xe anh S không biết xe do C1 bán là xe mà C1 mua được từ việc trộm cắp của M và C.

Do đó hành vi của M và C đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 BLHS và hành vi của C1 đã cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác trộm cắp mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 BLHS. Cáo trạng VKS nhân dân huyện T truy tố các bị cáo về các tội danh trên là có căn cứ pháp luật.

Đánh giá tính chất mức độ hành vi của các bị cáo: Trong vụ án bị cáo M và C phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn. M với vai trò chính, C với vai trò giúp sức tích cực do đó sẽ xử lý M nặng hơn C.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục toàn bộ thiệt hại cho bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nên HĐXX cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51. Người bị hại có đơn xin giảm nhẹ cho các bị cáo nên các bị cáo M, C được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo C1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51, bà N1 của bị cáo C1 là người có công với nhà nước nên HĐXX cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Sau khi phạm tội các bị cáo đầu thú và khai báo thành khẩn.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được Bộ luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Tuy nhiên, các bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án tiền sự, đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo M, C. Các bị cáo có hơn 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS và nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, do đó cho các bị cáo cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung phù hợp với quy định tại Điều 65, Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mức hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với các bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[4] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có việc làm ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo là có căn cứ.

Đại diện VKS đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của HĐXX.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Q đã nhận lại xe máy Honda SH: 29V5-X và số tiền 30.000.000 đồng C, M bồi thường nên không có yêu cầu gì, HĐXX không xem xét. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh S đã nhận số tiền bồi thường của C1 là 25.500.00 đồng nên không có yêu cầu gì về dân sự, HĐXX không xem xét;

Về số tiền M, C nhận của C1, C1 không yêu cầu M, C trả lại. M, C đã bồi thường cho chị Q, không hưởng lợi gì. Do đó HĐXX không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng Sung vào công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại Iphone 11 Promax, số I: 352841111940028, có sim số: 0387846X thu giữ của M và 01 chiếc điện thoại Samsung A12 thu giữ của C1 là tài sản cá nhân các bị cáo dùng vào việc phạm tội.

Trả lại C 01 chiếc điện thoại Vsmart Joy3, số I: 351726117387089, có sim số: 0335418759 thu giữ của C là tài sản cá nhân của C để liên lạc hàng ngày không liên quan việc phạm tội.

Tiếp tục lưu hồ sơ 01 USB bên trong chứa video hình ảnh nội dung vụ việc là tài liệu chứng cứ của vụ án.

Quá trình điều tra xác định khi cho D Chiến Công vay tiền để nhận cầm cố xe, anh Nguyễn Văn D1 không biết chiếc xe máy cầm cố là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Điều tra không có căn cứ xử lý là có căn cứ.

Anh Hà Văn S khai khi mua chiếc xe mô tô Honda SH BKS: 29V5 - X của Dương Chiến C1, anh S không biết là tài sản do phạm tội mà có. Khi biết nội dung vụ việc anh S đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an chiếc xe máy trên. Quá trình điều tra, Dương Chiến C1 đã bồi thường cho anh S số tiền 25.500.000 đồng. Anh S nhận tiền bồi thường, không yêu cầu về dân sự nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Quá trình điều tra xác định người xe ôm và thợ sửa khóa mà M, C đã thuê đẩy xe, đánh mới chìa khóa không biết xe máy là tài sản do phạm tội mà có. Anh Ngô Đức H1 khai không biết số tiền M trả nợ cho H1 là tiền do phạm tội mà có, sau đó gia đình M và C đã bồi thường cho bị hại nên Cơ quan Điều tra không xử lý đối với người xe ôm, thợ sửa khóa và anh H1 là có căn cứ.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 47 của Bộ luật hình sự đối với Lê Đức M và Vũ Kiên C.

- Căn cứ khoản 1 Điều 323, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 47 của Bộ luật hình sự đối với Dương Chiến C1.

- Căn cứ khoản 3 Điều 106, các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

- Căn cứ Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự;

- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Đức M, Vũ Kiên C phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Dương Chiến C1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” 2. Về hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Lê Đức M 28 (Hai mươi tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 56 tháng kể từ ngày tuyên án.

- Xử phạt bị cáo Vũ Kiên C 26 (Hai mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 52 tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao các bị cáo Lê Đức M, Vũ Kiên C về UBND xã P, huyện H, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

- Xử phạt bị cáo Dương Chiến C1 07 (Bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Dương Chiến C1 về UBND phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự Trả tự do cho các bị cáo Lê Đức M, Vũ Kiên C, Dương Chiến C1 ngay tại phiên tòa nếu các bị cáo không bị tạm giam về tội phạm nào khác Áp dụng khoản 5 Điều 65 của BLHS: Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo 3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo

4. Về dân sự: Ghi nhận các bị cáo đã giải quyết xong, không xem xét giải quyết.

5. Vật chứng: Sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại Iphone màu đen đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong của M; 01 điện thoại Samsung, bị nứt màn hình đã qua sử dụng, không kiểm chất lượng bên trong của C1.

Trả lại Vũ Kiên C 01 chiếc điện thoại Vsmart Joy3, số Imei: 351726117387089, có sim số: 0335418759 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì) Tiếp tục lưu hồ sơ 01 USB bên trong chứa video hình ảnh nội dung vụ việc là tài liệu chứng cứ của vụ án.

6. Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

7. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

109
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội trộm cắp tài sản số 203/2023/HS-ST

Số hiệu:203/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thanh Trì - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:30/11/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về