Bản án về tội trộm cắp tài sản số 20/2023/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 20/2023/HS-ST NGÀY 07/09/2023 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

 Ngày 07 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:

Bị cáo thứ nhất: Nguyễn Minh L, sinh năm 1985; tên gọi khác: T; nơi cư trú: Khóm 6, thị t, huyện N, tỉnh C .; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Võ Thị S (đã chết); vợ: Chưa.

Tiền án: Bị cáo có 03 tiền án, cụ thể:

+ Ngày 29/11/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 53/HSST ngày 29/11/2011, chấp hành xong hình phạt ngày 10/02/2013;

+ Ngày 12/12/2017 bị Tòa án nhân dân huyện C xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 25/HSST ngày 12/12/2017, chấp hành xong hình phạt ngày 22/01/2019, bản án xác định tái phạm; chưa được xóa án tích;

+ Ngày 30/6/2020 bị Tòa án nhân dân huyện C xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 10/HSST ngày 30/6/2020, chấp hành xong hình phạt ngày 12/6/2022, bản án xác định tái phạm nguy hiểm, chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 02/7/2005 bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, thời hạn 24 tháng theo Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục số 71 QĐ/UB ngày 02/7/2005 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh C, chấp hành xong ngày 28/02/2007; bị bắt, tạm giam ngày 17/4/2023 cho đến ngày 04/5/2023 bị cáo bỏ trốn. Ngày 05/5/2023 bị bắt tạm giữ, tạm giam cho đến nay, (có mặt).

Bị cáo thứ hai: Lê Trường A, sinh năm 2001; tên gọi khác: Chó Lùn; nơi cư trú: Ấp R, xã Đ, huyện N, tỉnh C .; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Trường G và bà Nguyễn Thị M; vợ: Chưa; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Ngày 11/9/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 17/HSST ngày 11/9/2019, chấp hành xong ngày 24/4/2020, đã được xóa án tích.

+ Ngày 12/5/2023 bị Tòa án nhân dân huyện C xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 09/HSST ngày 12/5/2023, bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/5/2023 đến nay, (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Minh L: Bà Huỳnh Mỹ S - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C, (có mặt).

- Các bị hại:

+ Ban quản lý đô thị huyện Năm C1.

Địa chỉ: Khóm 2, thị t, huyện N, tỉnh C ..

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hà Thanh P – Chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Vũ L – Chức vụ: Kế toán (là người đại diện theo ủy quyền), (xin vắng).

Địa chỉ nơi làm việc: Khóm 2, thị t, huyện N, tỉnh C ..

+ Ông Võ Văn T, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Nơi đăng ký thường trú: Khóm 1, thị t, huyện N, tỉnh C ..

Địa chỉ cư trú: Khóm 6, thị t, huyện N, tỉnh C ..

+ Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1987 (xin vắng).

Địa chỉ: Khóm 6, thị t, huyện N, tỉnh C ..

+ Ông Chu Văn T, sinh năm 1968.

Địa chỉ cư trú: Khóm 6, thị t, huyện N, tỉnh C ..

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Xí nghiệp cấp nước và Môi trường huyện Năm C.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh S - Chức vụ: Giám đốc (vắng mặt).

Địa chỉ nơi làm việc: Khóm 2, thị t, huyện N, tỉnh C ..

+ Ông Huỳnh Văn C, sinh năm 1986 (tên gọi khác: Hữu), (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Khóm C, thị t, huyện N, tỉnh C ..

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 00 giờ ngày 24/3/2023, Nguyễn Minh L cùng với người thanh niên tên T (không rõ lý lịch) đi bộ theo hướng từ vòng xoay thị trấn C về nhà của L thuộc khóm 8, thị trấn C, huyện C thì L và T nảy sinh ý định tìm tài sản để trộm bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Khi đi ngang trường Mẫu giáo Sao Mai (cũ) thuộc khóm 8, thị trấn C thì L phát hiện 01 (một) cái đồng hồ nước của Ban quản lý đô thị huyện Năm C không người trông coi nên Ldùng tay bẻ ống nhựa và lấy được đồng hồ nước đưa cho T cầm, sau đó L và T tiếp tục đi vào khu vực đường Xóm Huế thuộc khóm 6, thị trấn C để tìm tài sản trộm.

Khi đến nhà của ông Chu Văn T, L phát hiện 02 (hai) cái đồng hồ nước của ông T và của ông Nguyễn Thành T nên L dùng tay bẻ ống nhựa lấy 02 (hai) đồng hồ nước đưa cho T cầm và cả hai đi về nhà của L.

Khoảng 07 giờ cùng ngày, L cầm 03 (ba) cái đồng hồ nước và dây đồng, dây sắt do L nhặt phế liệu được đem đến cửa hàng phế liệu của ông Huỳnh Văn C thuộc khóm Cái Nai, thị trấn C bán được tổng số tiền là 150.000 đồng, trong đó 03 cái đồng hồ nước bán được số tiền là 135.000 đồng. L đưa cho T số tiền 100.000 đồng, số tiền còn lại L tiêu xài cá nhân hết.

Đối với các bị hại là Ban quản lý đô thị huyện Năm C, ông Chu Văn T và ông Nguyễn Thành T sau khi bị mất trộm tài sản đã đến Công an thị trấn C trình báo sự việc.

Công an thị trấn tiến hành mời Nguyễn Minh L làm việc thì L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tạm giữ của L các tài sản sau:

- 01 (một) nón kết vải màu đỏ, đã qua sử dụng;

- 01 (một) áo thun ngắn tay màu vàng, phía trên túi áo có lôgô Hưng Thịnh Trung tâm GDNN đào tạo lái xe ô tô;

- 01 (một) quần Jeans màu xám đen, đã qua sử dụng;

- 01 (một) đôi dép bằng nhựa tổ ong màu đen, đã qua sử dụng.

Công an thị trấn C tiến hành làm việc với ông Huỳnh Văn C và thu giữ 03 (ba) đồng hồ nước.

Tại kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 07/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận:

Đồng hồ nước DN 15mm, BMR-15C, số lượng 03 cái giá trị 1.413.000 đồng (Một triệu bốn trăm mười ba nghìn đồng).

Vụ thứ hai: Ngày 11/4/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Chu Văn T312 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra Nguyễn Minh L được Nhà tạm giữ Công an huyện C ra Quyết định số 21/QĐ-BTGG ngày 17/4/2023 bố trí tạm giam tại buồng giam số 13 Khu C. Do bồn cầu bị nghẹt nên ngày 20/4/2023 Nhà tạm giữ Công an huyện C ra Quyết định số 21/QĐ/-BTGG bố trí giam L tại buồng giam số 12 Khu C. Quá trình tạm giam do L thường xuyên báo bệnh nên Nhà tạm giữ ra quyết định số 24/QĐ/BTGG ngày 23/4/2023 bố trí tạm giam Lê Trường A đang chờ ngày xét xử về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự từ buồng giam số 09 Khu A sang buồng giam số 12 Khu C, giam chung với L.

Khoảng 17 giờ, ngày 04/5/2023 Nguyễn Minh L phát hiện phần nền buồng giam bị nứt, do nhớ nhà và cha ruột vừa mới mất nên L đã nảy sinh ý định trốn khỏi nơi giam, giữ để về thăm nhà. Sau khi ăn cơm xong, L dùng tay móc những cục xi măng bị nứt và bới đất xếp lên nền toilet có vách tường che lại tạo thành một lỗ hỏng có kích thước 55cm x 24cm x 40cm. Lúc này A cũng nói nhớ mẹ nên đồng ý trốn khỏi nơi giam, giữ với L.

Sau khi nghe cán bộ đánh kẻng thì L lấy quần áo bỏ vào bọc ny long, lúc này A cũng lấy quần áo bỏ vào bọc ny long chung với L. L chui ra ngoài trước rồi tới lượt A chui ra theo. Sau khi thoát ra khỏi phòng số 12, L và A thay quần áo rồi leo lên tường rào thoát ra khu vực của Nhà tạm giữ, tiếp tục L và A đi theo hướng ra lộ lớn, khi đến một cây cao sát vách tường có treo 01 (một) cái mùng L và A leo ra ngoài đường lộ Nguyễn Việt K(hẻm Năm Thắng) thoát ra khỏi khu vực Công an huyện C. Sau đó đi về nhà của L ở khóm 8, thị trấn C để L thấp nhang cho cha. Lúc này, A nói đi về nhà ở xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển thì L cũng muốn đi theo A.

Khi đi đến bến ca nô Công an huyện C, L phát hiện 01 xe mô tô hiệu Dream, màu nâu, biển kiểm soát 69B1 – xxxx của ông Võ Văn T đậu cặp lộ không người trông coi nên L nảy sinh ý định trộm xe để làm phương tiện đi lại. L đến dẫn xe đi, lúc này A bứt đứt dây đề xe rồi L đạp khởi động xe. A điều khiển xe chở L về đến nhà của A ở ấp Rạch Tàu Đông, xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển rồi cả hai trốn sau phần mộ của gia đình. Tại đây A và L đẩy xe trộm được của ông T xuống mươn nước cất giấu. Sau đó, A đi vào nhà gặp mẹ ruột là bà Nguyễn Thị M, bà M khuyên ra đầu thú.

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 05/5/2023 Cán bộ Nhà tạm giữ Công an huyện C kiểm tra, kiểm diện thì phát hiện những người bị tạm giam tại buồng giam số 12 là L và A đã bỏ trốn nên lập biên bản sự việc, đồng thời trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra quyết định truy nã đối với Nguyễn Minh L và Lê Trường A về tội Trốn khỏi nơi giam, giữ quy định tại khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự.

Cơ quan điều tra đã tiến hành tạm giữ một số tài sản sau:

- 01 (một) cục gạch có dính bê tông kích thước 17cm x 15cm x 03cm;

- 01(một) cục đá kích thước 20cm x 12cm x 06cm;

- 01 (một) cục gạch ống kích thước 17cm x 08cm x 08cm;

- 01 (một) mùng vải thưa, đã bị rách, dài 270cm, màu xanh rêu;

- 01 (một) áo thun ngắn tay cổ tròn, hiệu Adidas, màu tím sọc trắng nhỏ, đã qua sử dụng;

- 01 (một) quần cục màu tím màu trắng nhỏ, đã qua sử dụng;

- 01 (một) áo thun ngắn tay, màu đỏ, cổ tròn có dùng chữ “WE ARE MADE FOR THIS”, đã qua sử dụng;

- 01 (một) quần cục màu vàng, lưng quần thun màu đen, đã qua sử dụng.

Tại kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐGTS ngày 07/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận:

01 (một) xe mô tô đã qua sử dụng, giá trị thực tế 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng).

Tại bản cáo trạng số: 18/CT-VKSNC ngày 21 tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh C truy tố đối với các bị cáo:

Nguyễn Minh L về tội “Trộm cắp tài sản và trốn khỏi nơi giam, giữ” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự.

Lê Trường A về tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ” quy định tại khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa: Đại diện viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52, Khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh L phạm tội “Trộm cắp tài sản và tội trốn khỏi nơi giam, giữ”.

Phạt bị cáo Nguyễn Minh L mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 02 năm đến 03 năm tù về tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội, bị cáo Nguyễn Minh L phải chấp hành mức án từ 03 năm tù đến 04 năm 06 tháng tù.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 386; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Lê Trường A phạm tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ”.

Phạt bị cáo Lê Trường A mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.

Áp dụng: Khoản 1 điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt với Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2023/HS-ST ngày 12/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh C xử phạt bị cáo A 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Hình phạt chung bị cáo A phải chấp hành của hai bản án là từ 04 năm 06 tháng tù đến 05 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo L bồi thường nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền bị cáo L thu lợi bất chính 135.000 đồng.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) nón kết vải màu đỏ; 01 (một) áo thun ngắn tay màu vàng, phía trên túi áo có lôgô Hưng Thịnh Trung tâm GDNN đào tạo lái xe ô tô; 01 (một) quần Jeans màu xám đen; 01 (một) đôi dép bằng nhựa tổ ong màu đen; 01 (một) cục gạch có dính bê tông kích thước 17cm x 15cm x 03cm;

01(một) cục đá kích thước 20cm x 12cm x 06cm; 01 (một) cục gạch ống kích thước 17cm x 08cm x 08cm; 01 (một) mùng vải thưa, đã bị rách, dài 270cm, màu xanh rêu; 01 (một) áo thun ngắn tay cổ tròn, hiệu Adidas, màu tím sọc trắng nhỏ; 01 (một) quần cục màu tím màu trắng nhỏ; 01 (một) áo thun ngắn tay, màu đỏ, cổ tròn có dùng chữ “WE ARE MADE FOR THIS” ; 01 (một) quần cục màu vàng, lưng quần thun màu đen.

- Bị cáo Nguyễn Minh L, Lê Trường A không có ý kiến tranh luận. Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo thống nhất về tội danh mà Viện kiểm sát truy tố. Đối với tài sản của bị cáo bị tạm giữ, do không còn giá trị sử dụng nên bị cáo không có yêu cầu nhận lại. Trong lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm hòa nhập với cộng đồng.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Minh L là bà Huỳnh Mỹ S trình bày: Thống nhất toàn bộ nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố đối với bị cáo L. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L do bị cáo L trình độ học vấn thấp nên hiểu biết về pháp luật còn hạn chế, bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên mức phạt cả hai tội cho bị cáo L khoảng 03 năm tù để bị cáo có cơ hội sửa chữa bản thân, hòa nhập cộng đồng. Về án phí hình sự sơ thẩm đề nghị Hội đồng xét xử miễn cho bị cáo L do bị cáo thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí.

- Các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, qua đối chiếu với lời khai của các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy phù hợp với nhau, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: Đêm ngày 24/3/2023 Nguyễn Minh L cùng với người thanh niên tên T (không rõ lý lịch) đã lén lút trộm 03 đồng hồ nước loại DN 15mm, BMR-15C của Ban Quản lý đô thị huyện C, ông Chu Văn T và ông Nguyễn Thành T. Tổng giá trị tài sản bị cáo L chiếm đoạt là 1.413.000đ (Một triệu bốn trăm mười ba nghìn đồng). Quá trình điều tra bị cáo L được Nhà tạm giữ Công an huyện C bố trí giam cùng buồng số 12 Khu C với bị cáo Lê Trường A đang chờ xét xử về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 04/5/2023 lợi dụng đêm khuya thiếu cảnh giác của cán bộ Nhà tạm giữ Công an huyện C nên bị cáo L và bị cáo A thực hiện hành vi trốn khỏi Nhà tạm giữ Công an huyện C. Trong lúc trốn thoát hai bị cáo tiếp tục lén lút trộm 01 xe mô tô biển kiểm soát số 69B1-xxxx giá trị là 900.000 đồng để làm phương tiện di chuyển.

Xét thấy, các lần trộm cắp tài sản của bị cáo L không liên tục và giá trị tài sản mà bị cáo L trộm cắp có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng do bị cáo L đã nhiều lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, cụ thể lần phạm tội sau cùng ngày 30/6/2020 L bị Tòa án nhân dân huyện C xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” bản án xác định tái phạm nguy hiểm, chưa được xóa án tích mà lại vi phạm nên đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và lần phạm tội này bị cáo L phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình với tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Hành vi trốn khỏi Nhà tạm giữ Công an huyện C của các bị cáo vào đêm ngày 04/5/2023 Hội đồng xét xử thấy rằng, các bị cáo không có sự phân công, câu kết chặt chẽ với nhau để thực hiện hành vi phạm tội nên không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức. Tội phạm hoàn thành khi các bị cáo trốn khỏi Nhà tạm giữ Công an huyện C. Tại thời điểm phạm tội bị cáo An và L có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, bị cáo A và bị cáo L phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự.

Từ các căn cứ trên xét thấy, Bản cáo trạng số 18/CT-VKSNC ngày 21 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh C truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Minh L phạm tội “Trộm cắp tài sản và trốn khỏi nơi giam, giữ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Lê Trường A về tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ” theo quy định tại khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân gây hoang mang trong quần chúng nhân dân nơi các bị cáo thực hiện việc phạm tội và xâm phạm đến hoạt động tư pháp của cơ quan tố tụng đối với người phạm tội là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, gây xáo trộn trật tự quản lý của cơ quan nơi giam giữ các bị cáo. Các bị cáo đang bị tạm giam và bỏ trốn nhằm trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật đối với hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra, gây khó khăn cho Cơ quan tiến hành tố tụng trong việc điều tra, xét xử, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo L nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật sẽ bị trừng trị nghiêm khắc nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân bị cáo vẫn cố tình thực hiện tội phạm. Các bị cáo nhận thức được hành vi trốn khỏi nơi giam, giữ là vi phạm pháp luật nhưng vì vẫn cố tình thực hiện. Qua đó, thể hiện sự xem thường pháp luật của các bị cáo. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm khắc để cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành người tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng:

Bị cáo L đã phạm tội 02 lần trở lên đối với tội “Trộm cắp tài sản”, và tái phạm nguy hiểm đối với tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ” nên áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Minh L có nhân thân xấu, ngày 02/7/2005 Nguyễn Minh L bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 28/02/2007.

Bị cáo A không có tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên, bản thân bị cáo có nhân thân xấu, ngày 11/9/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong ngày 24/4/2020. Ngày 12/5/2023 bị Tòa án nhân dân huyện C xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, bị cáo đang chấp hành án.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ:

Quá trình điều tra, bị cáo L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo A được hưởng tình tiết giảm nhẹ người phạm tội ra đầu thú và tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Đối với bị cáo A có giúp sức cho bị cáo L trộm chiếc xe mô tô của ông T, tuy nhiên tài sản trộm chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” nên ngày 05 tháng 7 năm 2023 Công an huyện C đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Trường A là đúng quy định pháp luật.

Ông Huỳnh Văn C khi mua đồng hồ của bị cáo L bán với số tiền 135.000 đồng thì ông không biết đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên không đủ căn cứ xử lý ông C về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Người thanh niên tên T đi cùng với bị cáo L, do không xác định được họ tên, địa chỉ nên đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Xí nghiệp cấp nước và Môi trường huyện Năm C không yêu cầu bị cáo L bồi thường thiệt hại do lượng nước bị thất thoát nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Ngày 06/5/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại xe mô tô tô hiệu Dream, màu nâu, biển kiểm soát 69B1-xxxx cho ông Võ Văn T là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ngày 09/5/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại tài sản là 03 (ba) đồng hồ nước cho các bị hại Ban quản lý đô thị huyện Năm C, ông Chu Văn T và ông Nguyễn Thành T là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền bị cáo L thu lợi bất chính chiếm đoạt 03 đồng hồ nước số tiền 135.000 đồng, buộc bị cáo L giao nộp số tiền này.

- Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng sau: 01 (một) nón kết vải màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) áo thun ngắn tay màu vàng, phía trên túi áo có lôgô Hưng Thịnh Trung tâm GDNN đào tạo lái xe ô tô; 01 (một) quần Jeans màu xám đen, đã qua sử dụng; 01 (một) đôi dép bằng nhựa tổ ong màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) cục gạch có dính bê tông kích thước 17cm x 15cm x 03cm; 01(một) cục đá kích thước 20cm x 12cm x 06cm; 01 (một) cục gạch ống kích thước 17cm x 08cm x 08cm; 01 (một) mùng vải thưa, đã bị rách, dài 270cm, màu xanh rêu; 01 (một) áo thun ngắn tay cổ tròn, hiệu Adidas, màu tím sọc trắng nhỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) quần cục màu tím màu trắng nhỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) áo thun ngắn tay, màu đỏ, cổ tròn có dùng chữ “WE ARE MADE FOR THIS”, đã qua sử dụng ; 01 (một) quần cục màu vàng, lưng quần thun màu đen, đã qua sử dụng.

Các vật chứng này do Chi cục Thi hành án dân sự huyện C quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21 tháng 7 năm 2023, (bút lục 352).

[8] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về áp dụng điều luật, tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Minh L về áp dụng điều luật, tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

điểm a khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Minh L chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Do bị cáo L thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí nên được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Lê Trường A chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[11] Quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về trách nhiệm hình sự:

- Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 386, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 55 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh L (tên gọi khác Minh Tàn) phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Trốn khỏi nơi giam, giữ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh L (tên gọi khác Minh Tàn) 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 02 (hai) năm tù về tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ”. Tổng hợp hình phạt của hai tội bị cáo L phải chấp hành là 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 05/5/2023, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 17/4/2023 đến ngày 04/5/2023.

- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 386, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lê Trường A (tên gọi khác Chó Lùn) phạm tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ”.

Xử phạt bị cáo Lê Trường A (tên gọi khác Chó Lùn) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Tổng hợp hình phạt với Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2023/HS-ST ngày 12/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh C xử phạt bị cáo A 03 (ba) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Hình phạt chung bị cáo An phải chấp hành của hai bản án là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 05/5/2023, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 12/12/2022 đến ngày 04/5/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

3. Về xử lý vật chứng: Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Buộc bị cáo Nguyễn Minh L (tên gọi khác Minh Tàn) phải giao nộp số tiền 135.000 đồng để tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng sau: 01 (một) nón kết vải màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) áo thun ngắn tay màu vàng, phía trên túi áo có lôgô Hưng Thịnh Trung tâm GDNN đào tạo lái xe ô tô; 01 (một) quần Jeans màu xám đen, đã qua sử dụng; 01 (một) đôi dép bằng nhựa tổ ong màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) cục gạch có dính bê tông kích thước 17cm x 15cm x 03cm; 01(một) cục đá kích thước 20cm x 12cm x 06cm; 01 (một) cục gạch ống kích thước 17cm x 08cm x 08cm; 01 (một) mùng vải thưa, đã bị rách, dài 270cm, màu xanh rêu; 01 (một) áo thun ngắn tay cổ tròn, hiệu Adidas, màu tím sọc trắng nhỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) quần cục màu tím màu trắng nhỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) áo thun ngắn tay, màu đỏ, cổ tròn có dùng chữ “WE ARE MADE FOR THIS”, đã qua sử dụng ; 01 (một) quần cục màu vàng, lưng quần thun màu đen, đã qua sử dụng. Các vật chứng này do Chi cục Thi hành án dân sự huyện C quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21 tháng 7 năm 2023.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số:

326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng cho bị cáo Nguyễn Minh L.

Bị cáo Lê Trường A (tên gọi khác Chó Lùn) nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, bị cáo, những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, vắng mặt tính từ ngày nhận bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

178
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội trộm cắp tài sản số 20/2023/HS-ST

Số hiệu:20/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Năm Căn - Cà Mau
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:07/09/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về