TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
BẢN ÁN 195/2019/HS-ST NGÀY 27/11/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Ngày 27 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 196/2019/HSST ngày 15 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 262/2019/QĐXXST – HS ngày 15/11/2019 đối với bị cáo:
1. Nguyễn Minh A (Tên gọi khác: B); Sinh năm: 1995; Tại: B; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: khu phố C, phường D, thành phố PT, tỉnh B; Dân tộc: kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: không; Con ông: Nguyễn Văn E, sinh năm 1967; Nghề nghiệp: làm thuê; Con bà Bùi Thị F, sinh năm 1968; Nghề nghiệp: nội trợ; Hiện cùng trú tại: khu phố C, phường D, thành phố PT, tỉnh B; Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 15/5/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố PT, tỉnh B tuyên phạt 30 tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (theo bản án số 73/2015/HSST). Chấp hành xong hình phạt ngày 25/8/2016, đã xóa án tích; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/7/2019. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố PT “Có mặt”.
2. Hàn Quốc G (Tên gọi khác: H, I); Sinh năm: 1986, Tại: B; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: khu phố J, phường K, thành phố PT, tỉnh B; Dân tộc: kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: không; Con ông: Hàn Lưu L, sinh năm 1961; Nghề nghiệp : làm thuê; Con bà Hồ Thị Thu N, sinh năm 1962 Nghề nghiệp: nội trợ; Hiện cùng trú tại: khu phố J, phường K, thành phố PT, tỉnh B; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 10/9/2008, bị Trưởng công an phường K, thành phố PT phạt hành chính 03 triệu đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng và xúc phạm người thi hành công vụ; Ngày 12/12/2008, bị Tòa án nhân dân thành phố PT xử phạt 24 tháng tù giam về tội “Chống người thi hành công vụ”(theo bản án số 196/2008/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/10/2010; Ngày 28/6/2007, bị Tòa án nhân dân thành phố PT xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Chống người thi hành công vụ”(theo bản án số 114/2007/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/01/2008; Ngày 17/9/2004, bị Tòa án nhân dân tỉnh B xử phạt 24 tháng tù giam về tội “Cướp tài sản”(theo bản án số 148/STHS). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/02/2006; Ngày 18/01/2001, bị chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B ra Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng 02 năm về hành vi gây rối trật tự công cộng; Bị can hiện đang được tại ngoại. “Có mặt”.
*/Bị hại:
1/ Nguyễn Hữu O, sinh năm 1957 (vắng mặt).
Địa chỉ: khu phố C, phường P, thành phố PT.
2/ Nguyễn Thị Q, sinh năm 1961(vắng mặt).
Địa chỉ: khu phố R, phường S, thành phố PT, tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
V ụ thứ nhấ t :
Khoảng 09 giờ ngày 10/5/2019, Nguyễn Minh A đi xe ôm từ nhà đến nhà của Hàn Quốc G ở hẻm không số thuộc khu phố J, phường K, TP.PT chơi. Khi đi vào đầu hẻm nhà G, A nhìn thấy 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 86C1- XXX.X4 của ông Nguyễn Hữu O (sinh năm 1975, trú tại khu phố C, phường P, TP.PT) đang dựng nhưng không có người trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Tuy nhiên, A chưa thực hiện hành vi mà tiếp tục đi vào nhà G. Khi gặp G thì A nói: “Đầu hẻm nhà anh có dựng chiếc xe Sirius, lấy luôn nha anh?”. G hiểu rõ là A muốn lấy trộm 01 xe mô tô hiệu Sirius của người khác đang dựng ở đầu hẻm nhà mình nên có hỏi lại: “Có ai không?”. A hiểu G hỏi là có người ở khu vực đầu hẻm không nên trả lời: “Không có ai đâu”. Nghe vậy, G nói: “Lấy luôn đi”. Mục đích của G là kêu A đi lấy chiếc xe mô tô trên để G đi bán kiếm tiền tiêu xài chung.
Sau khi cùng bàn bạc, A đi bộ một mình ra đầu hẻm, lén lút tiếp cận xe mô tô biển số 86C1-XXX.X4 rồi dùng đoản phá khoá hình chữ L (đã mang theo sẵn trong người trước) phá khoá rồi nổ máy điều khiển chạy ra đường T (thuộc phường K, thành phố PT). Sau đó, A dừng xe rồi gọi điện thoại di động cho G (hiện A và G đều không nhớ rõ số điện thoại của nhau khi liên lạc) hỏi: “Đem xe về đâu anh?”. G trả lời: “Đem xe về nhà chị U”. Do đã từng cùng G đến địa điểm này nên A đã biết nhà và điều khiển xe mô tô biển số 86C1-XXX.X4 đến nhà của chị Lưu Thị Phương V (tên thường gọi là U, sinh năm 1983, trú tại W, phường D, thành phố PT). Do là khu vực vắng người, xung quanh đất trống và nhà không có cổng nên khi điều khiển xe mô tô 86C1-XXX.X4 đến, không thấy ai nên A đã tự dựng xe ở khu đất trống bên hông nhà như đã thỏa thuận rồi bỏ đi.
Hàn Quốc G sau khi kêu A điều khiển xe mô tô trộm được ở đầu hẻm đi ra nhà chị Lưu Thị Phương V (U) thì G cũng đi xe ôm đến đây. Khi đến, không thấy A nhưng G nhìn thấy 01 xe mô tô biển số 86C1-XXX.X4 đang dựng gần nhà U thì biết đây là xe mô tô A vừa trộm được. Đồng thời, lúc này G thấy A điều khiển 01 xe mô tô hiệu Honda SH Mode biển số 86C1-XXX.X9 đi vào (đây là xe mô tô do A trộm cắp ở vụ thứ hai). Sau đó, A và G dùng công cụ trong hai xe mô tô để tháo biển số của hai xe mô tô trên rồi G gắn biển số 86C1-XXX.X4 vào xe mô tô hiệu Honda SH Mode, biển số 86C1-XXX.X9 thì G đã vứt đi (nhưng không nhớ rõ ở đâu). A đi bộ về trước, còn G dắt xe mô tô hiệu SH Mode gắn biển số 86C1- XXX.X4 gửi ở nhà vợ chồng anh Lê Văn X (sinh năm 1992, trú tại khu phố Y, phường Z, thành phố PT) và Võ Thị Lệ AA (sinh năm 1992, trú tại khu phố C, phường S, TP.PT ở gần nhà chị V và có nói với vợ chồng X là xe của một người bạn gửi. Sau đó, G tự dắt xe mô tô Sirius (lúc này không có biển số) để ở khu vực đất trống phía trước nhà.
Đến ngày 11/5/2019, G bán xe mô tô hiệu Sirius gắn biển số 86C1-XXX.X9 cho Lê Ngọc BB (tên gọi khác: CC, sinh năm 1992, trú tại khu phố DD, thị trấn EE, huyện FF, tỉnh B) với giá 4.000.000 đồng rồi cùng A tiêu xài, mua ma tuý sử dụng hết. Khi thực hiện giao dịch, G dẫn BB ra địa điểm cất giấu để xem xe, đồng thời nói với BB là “xe đá” được (tức xe do trộm cắp mà có) và không có giấy tờ nên BB đồng ý mua với giá 4.000.000 đồng. Tuy nhiên, qua xác minh, hiện BB không có mặt ở địa phương nên chưa làm rõ được tình tiết này.
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 10/5/2019, ông Nguyễn Hữu O phát hiện mất xe mô tô đã đến công an phường K, thành phố PT trình báo sự việc.
Do không tìm được BB nên xe mô tô hiệu Yamaha Sirius trên hiện không thu hồi được.
Căn cứ hóa đơn mua xe mô tô, cơ quan CSĐT Công an TP.PT đã trưng cầu định giá tài sản.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 200, ngày 27/9/2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự TP.PT kết luận:
“Tên tài sản: 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius – Biển số 86C1-XXX.X4, Số máy: 5C63-619023, Số khung: C630CY618965.
Giá trị tài sản là: 5.250.000 đồng ”
Vụ thứ hai: Sau khi trộm cắp được xe mô tô biển số 86C1-XXX.X4 và mang đến để tại nhà của chị Lưu Thị Phương V thì đến khoảng 13 giờ cùng ngày, khi đang đi bộ đến đoạn Dốc 2 nghĩa trang TP.PT (thuộc W, phường D,thành phố PT), Nguyễn Minh A nhìn thấy 01 xe mô tô hiệu Honda SH Mode biển số 86C1-XXX.X9 của bà Nguyễn Thị Q (sinh năm 1961, trú tại khu phố R, phường S, thành phố PT) đang dựng nhưng không có người trông coi. A nảy sinh ý định chiếm đoạt xe này nên lén lút tiếp cận xe mô tô rồi dùng đoản hình chữ L mang theo sẵn, phá khoá và điều khiển xe mô tô biển số 86C1-XXX.X9 chạy về nhà chị V. Tại đây, A gặp Hàn Quốc G và cả hai đã thực hiện hành vi tháo biển số giữa hai xe mô tô như đã đề cập tại vụ trộm thứ nhất.
Bà Nguyễn Thị Q, sau khi phát hiện mất tài sản đã đến công an phường trình báo sự việc. Qua truy tìm và phát động quần chúng tố giác, cơ quan công an phát hiện và thu giữ được xe mô tô hiệu Honda SH Mode gắn biển số 86C1-XXX.X4 tại nhà anh Lê Văn X.
Vật chứng trong lần phạm tội này gồm:
- 01 xe mô tô hiệu Honda SH Mode, gắn biển số 86C1-XXX.X4, số khung 5100DY023249, số máy 51E-0023195; thu giữ tại nhà Lê Văn X.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 116, ngày 07/06/2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự TP.PT kết luận:
“Tên tài sản: 01 xe gắn máy hiệu Honda – Số loại: JF51SH, Số máy: F51E- 0023195, Số khung: 5100DY023249.
Giá trị tài sản là: 23.200.000 đồng.” Tại bản cáo trạng số 202/CT – VKS ngày 14 tháng 11 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố PT đã truy tố Nguyễn Minh A, Hàn Quốc G về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 01 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố PT giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 01 Điều 173; điểm g khoản 01 Điều 52, điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự;
xử phạt bị cáo A mức án từ 02 đến 03 năm tù, áp dụng: khoản 01 Điều 173; điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo G mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
*/Biện pháp tư pháp:
- Xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 biển số 86C1 – XXX.X4 là vật không còn giá trị sử dụng.
- Bồi thường dân sự:
Buộc bị cáo A bồi thường cho ông Nguyễn Hữu O số tiền 3.000.000 đồng. Bị cáo G bồi thường cho ông Nguyễn Hữu O số tiền 2.250.000 đồng.
Các bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của Viện kiểm sát đồng thời thừa nhận tòan bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố PT.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng: mong hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để sớm trở về đoàn tụ gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là đầy đủ và tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai phạm tội của các bị cáo phù hợp với lời khai bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập theo quy định của pháp luật có tại hồ sơ đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 10/5/2019, Nguyễn Minh A và Hàn Quốc G bàn bạc, hứa hẹn trước với nhau về việc A sẽ trộm cắp xe mô tô để G đem bán kiếm tiền tiêu xài chung. Sau đó, A đã lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 86C1-XXX.X4 trị giá 5.250.000 đồng của ông Nguyễn Hữu O đang dựng trước hẻm nhà G ở khu phố J, phường K, thành phố PT rồi đưa cho G bán với giá 04 triệu đồng.
Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 10/5/2019, Nguyễn Minh A đã tự ý lén lút chiếm đoạt thêm 01 xe mô tô hiệu Honda SH Mode biển số 86C1-XXX.X9 trị giá 23.200.000 đồng của bà Nguyễn Thị Q đang dựng ở khu vực Dốc 2 nghĩa trang thành phố PT thuộc W, phường D, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận.
Như vậy, hành vi chiếm đoạt tài sản của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp tài sản chiếm đoạt có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng là tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại khoản 01 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Bản cáo trạng số 202/CT- VKS – HS ngày 14 tháng 11 năm 2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố PT truy tố bị cáo Nguyễn Minh A, Hàn Quốc G về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 01 Điều 173 Bộ luật hình sự như đã viện dẫn trong cáo trạng là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo cho thấy, các bị cáo ý thức được quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, thế nhưng vì muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài mà không phải lao động cực nhọc nên các bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản của người khác, thỏa mãn nhu cầu vật chất cá nhân, bất chấp pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải xử lý nghiêm nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
Xét vai trò đồng phạm trong vụ án cho thấy, bị cáo A là người khởi xướng việc đi trộm cắp và là người thực hành lấy trộm tài sản, đồng thời bị cáo A đã tự ý lén lút chiếm đoạt thêm 01 xe mô tô hiệu Honda SH Mode biển số 86C1-XXX.X9 nên tính chất, mức độ hành vi phạm tội trong vụ án của bị cáo A nguy hiểm hơn bị cáo G, do đó khi quyết định mức hình phạt của các bị cáo thì bị cáo A cao hơn bị cáo G là có cơ sở.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo G không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo A 2 lần lấy trộm xe mô tô nên thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 01 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, các bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét về nhân thân cho thấy các bị cáo có nhân thân rất xấu từng bị xử lý hình sự thế nhưng các bị cáo vẫn không biết tu tĩnh làm ăn lương thiện để trở thành người có ích cho xã hội mà vẫn tiếp tục phạm tội.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố PT giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo là có căn cứ và với mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo.
Trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có xem xét đến nhân thân của các bị cáo và tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, xét thấy cần xử lý nghiêm đối với các bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về bồi thường dân sự:
Bị hại Nguyễn Thị Q vắng mặt tại phiên tòa nhưng thể hiện đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
Đối với bị hại Nguyễn Hữu O có đơn xin xử vắng mặt và thể hiện yêu cầu các bị cáo bồi thường chiếc xe bị mất trị giá 5.250.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo A đồng ý bồi thường cho ông O số tiền là 3.000.000 đồng, bị cáo G đồng ý bồi thường cho ông O số tiền là 2.250.000 đồng. Đây là sự thỏa thuận tự nguyện của các bị cáo nên Hội đồng chấp nhận sự thỏa thuận này.
[6] Xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 biển số 86C1 – XXX.X4 là vật không còn giá trị sử dụng.
Đối với Lê Ngọc BB là người mua chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius do bị cáo G bán cho BB nhưng do hiện nay BB không có mặt tại địa phương khi nào BB có mặt tại địa phương sẽ làm rõ xử lý sau.
Đối với Lưu Thị Phương V không biết A và G để xe trong khu vực đất trống bên hông nhà mình; Lê Văn X và Võ Thị Lê AA cho G gửi xe tại nhà nhưng không biết nguồn gốc xe mô tô nên không xử lý hình sự đối với V, X, AA về tội Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có là có cơ sở.
[7] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 02 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; án phí dân sự sơ thẩm. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
*Căn cứ: khoản 01 Điều 173; điểm g khoản 01 Điều 52; điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự.
*Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh A phạm tội “Trộm cắp tài sản ”.
*Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh A 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 25/7/2019.
Căn cứ: khoản 01 Điều 173; điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự.
*Tuyên bố: Bị cáo Hàn Quốc G phạm tội “Trộm cắp tài sản ”.
*Xử phạt: Bị cáo Hàn Quốc G 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
*Biện pháp tư pháp:
Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 02 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tuyên tịch thu tiêu hủy 01 biển số 86C1 XXX.X4 là vật không còn giá trị sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 39 ngày 22/11/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố PT.)
Về bồi thường dân sự:
Áp dụng: điểm b khoản 01 Điều 46, Điều 48 Bộ Luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589, Điều 357, Điều 468 Bộ Luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Tuyên buộc bị cáo Nguyễn Minh A bồi thường cho ông Nguyễn Hữu O số tiền là 3.000.000đ (ba triệu đồng). Bị cáo Hàn Quốc G bồi thường cho ông Nguyễn Hữu O số tiền 2.250.000 đ (hai triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng).
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 01 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 02 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
*Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 02 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Minh A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo Hàn Quốc G phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo bản án của các bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án ( 27/11/2019). Quyền kháng cáo của bị hại vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại địa phương.
Bản án về tội trộm cắp tài sản số 195/2019/HS-ST
| Số hiệu: | 195/2019/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết - Bình Thuận |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 27/11/2019 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về