Bản án về tội trộm cắp tài sản số 18/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 18/2024/HS-ST NGÀY 02/02/2024 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 02 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Bùi Quốc Bảo T, sinh năm 1992, tại tỉnh Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn K, xã B, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn TI (đã chết), con bà Đinh Thị C; vợ Trần Thị Hồng N (đã ly hôn); bị cáo có 01 người con sinh năm 2014; tiền án: Tại Bản án số 80/2019/HSST ngày 19/11/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xử phạt 12 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; Tại Bản án số 80/2021/HSST ngày 20/8/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 20/7/2023, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện L “có mặt”. Bị hại:

- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1976; nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng “có mặt”.

- Ông Nguyễn V, sinh năm 1966; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng “có mặt”.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Bà Lê Thị Lệ T2, sinh năm 1974; nơi cư trú: Tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng “vắng mặt”.

- Ông Huỳnh Công S, sinh năm 1970; nơi cư trú: Tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng “vắng mặt”.

- Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1956; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào thời gian từ ngày 12 đến ngày 14/7/2023, Bùi Quốc Bảo T, sinh năm 1992, nơi cư trú: Thôn K, xã B, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng thực hiện các hành vi trộm cắp như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 17 giờ 20 phút ngày 12/7/2023, khi Bùi Quốc Bảo T, đang ở nhà tại thôn K, xã B, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng thì Vũ Tiến D, sinh năm: 1977, nơi cư trú: Tổ dân phố R, thị trấn Đ, huyện L và Trần Khắc B, sinh năm 1988, nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện L điều khiển xe mô tô nhăn hiệu Honda, loại Balde, màu đỏ - đen, BKS: 49D1-271.xx của vợ là bà Nguyễn Thị T3 đến nhà T chơi. Tại đây, T hỏi mượn Bảy xe mô tô BKS: 49D1-271.xx để đi có công việc thì được B đồng ý. Sau đó, T một mình điều khiển xe mô tô BKS: 49D1-271.xx đi dọc trục đường Q, hướng về thị trấn Đ, huyện L để tìm nhà dân sơ hở trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng. Khi đi ngang qua nhà bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1976 thuộc tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L thì T phát hiện cửa kéo của ngôi nhà này mở, phía trong nhà cạnh cửa kéo có nhiều bao màu đỏ bên trong chứa cà ri hạt xếp chồng lên nhau mà không có ai trông coi. T điều khiển xe mô tô đi lên vỉa hè, dựng xe ở sát cửa kéo của ngôi nhà. T đi bộ vào trong nhà rồi lén lút bê một bao cà ri hạt có trọng lượng 70kg đặt lên yên xe và điều khiển xe về hướng huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Do không biết chỗ nào thu mua cà ri nên T chở bao cà ri này đi về nhà của mình để nhờ Vũ Tiến D chỉ chỗ bán.

Khi về đến nhà mình thì T nhờ D đi cùng T để D chỉ chỗ cho T bán bao cà ri trên, D đồng ý và có hỏi nguồn gốc bao cà ri trên thì T nói của T. Sau đó, D cùng T sử dụng xe mô tô mô tô BKS: 49D1-271.xx chở bao cà ri trên đến bán cho bà Lê Thị Lệ T2, sinh năm 1974, tại tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L được 700.000 đồng. Sau đó, T và D về trả chiếc xe mô tô trên cho B. số tiền bán cà ri có được, T dùng tiêu xài cá nhân và mua ma túy hết.

Vụ thứ hai: Vào khoảng 6 giờ 30 phút ngày 13/7/2023, Bùi Quốc Bảo T đi bộ từ nhà đến chợ L thì gặp Vũ Tiến D và Trần Khắc B. Thấy B vẫn đang sử dụng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu đen - đỏ, BKS: 49D1-271.xx của ngày hôm trước nên T lại hỏi mượn Bảy chiếc xe này và nói đi có công việc thì B đồng ý. Mục đích của T lại đến nhà của bà Nguyễn Thị H ở tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L tiếp tục lấy trộm bao cà ri hạt. T một mình điều khiển xe đi đến nhà của bà Nguyễn Thị H thì thấy cửa kéo của ngôi nhà mở, không có ai trông coi, bên trong nhà vẫn để các bao cà ri màu đỏ cạnh cửa kéo. T đi vào trong nhà bà H và lén lút lấy trộm một bao cà ri có trọng lượng 70kg, sau đó điều khiển xe đi về hướng chợ L. T chở cà ri đi về hướng chợ L là để nhờ D đi cùng T đến nhà bà Lê Thị Lệ T2 đề bán cà ri vì T không nhớ vị trí nhà của bà T2. Khi đến chợ L thì T cũng nói với D là bao ca ri này của nhà T và nhờ D dẫn đến nhà của bà Lê Thị Lệ T2 để bán bao cà ri này. Khi đến nơi, cả hai gặp chồng của bà T2 là ông Huỳnh Công S và bán cho ông S được 700.000 đồng. T có xin ông S cho thêm 50.000 đồng thì ông S đồng ý, sau đó ông S đưa cho T tất cả là 750.000 đồng. Sau đó, T và D điều khiển xe mô tô BKS: 49D1-271.xx đi về trả cho B. số tiền 750.000 đồng này T đã tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng hết.

Vụ thứ ba: Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 14/7/2023, khi Bùi Quốc Bảo T và Trần Khắc B đang ăn chè ở tiệm chè thuộc chợ mới huyện L thì B có gọi điện thoại nhờ ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1978, noi cư trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện L đến chợ L đề đón B. Khoảng 30 phút sau, ông B1 điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại Airblade, màu đen, BKS: 49D1-551.xx của con gái là bà Nguyễn Thị Thu H1 đi đến chợ L đề đón B. Sau đó T, B, B1 ngồi uống nước trong tiệm chè được một lúc thì T hỏi mượn xe mô tô BKS: 49D1-551.xx này và nói đi có việc thì được B1 đồng ý. Sau đó, T một mình điều khiển xe mô tô BKS: 49D1-551.xx đi dọc theo đường Quốc Lộ 27 lên hướng xã Đ với mục đích tìm nhà dân sơ hở đề lấy trộm tài sản. Khi đi đến quán T4 ở thôn Đ, xã Đ, huyện L do ông Nguyễn V, sinh năm 1966, nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện L làm chủ thì T thấy không có ai trông coi. Thiên dựng xe mô tô BKS: 49D1-551.xx ở trước cửa quán và định đi vào trong quán tạp hóa để lấy trộm một bao gạo đang để ở quầy đựng gạo. Khi T vừa đi vào đến cửa quán thì tiếng còi báo động trong quán vang lên. Lúc này anh Nguyễn Phú Đăng K, sinh năm 2009 là con trai của ông V chạy từ trong nhà ở cạnh quán ra khu vực bán hàng thì gặp T. Nghĩ Thiên đến mua hàng nên anh K hỏi T muốn mua gì, T nói với anh K muốn mua cám gạo thì anh K nói giá của cám gạo là 4.500đ/kg. Nghe thấy vậy thì T nói dối với anh K là để hỏi ý kiến của gia đình rồi sẽ quay lại sau.

Khi đi được khoảng 200m về hướng Ủy ban nhân dân xã Đ thì T điều khiển xe mô tô BKS: 49D1-551.xx quay lại quán T4. Khi đến nơi, T gọi vọng vào trong quán để xác định có người hay không. Nghe thấy có người gọi, anh K tiếp tục đi từ trong nhà ra thì thấy T. Anh K hỏi T muốn mua gì thì T yêu cầu anh K bán cho T 10kg cám gạo, anh K đồng ý. Khi anh K đang đong cám gạo để bán cho T thì T quay đầu xe mô tô BKS: 49D1-551.xx hướng ra ngoài đường quốc lộ 27. Sau đó T giả vờ xin anh K một ca nước để tạt xe cho đỡ nóng. Tin lời của T nên anh K chạy ra phía sau nhà lấy nước. Lợi dụng lúc không có ai trông coi, T đi vào trong quầy đựng gạo và bê trộm một bao gạo ruộng có trọng lượng 50kg được đựng trong vỏ bao màu trắng rồi để lên xe mô tô BKS: 49D1-551.xx và nhanh chóng điều khiển xe bỏ chạy về hướng thị trấn Đ, huyện L. T điều khiển xe chở bao gạo vừa lấy trộm đến bán cho bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1956 ở tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện L được số tiền 500.000 đồng. Sau khi nhận đủ tiền, T mang xe mô tô BKS: 49D1-551.xx về chợ L và trả lại xe cho Nguyễn Văn B1. Số tiền 500.000 đồng này T đã tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng hết.

Vật chứng, tài sản thu giữ: 01 bao cà ri hạt đã khô, đựng trong vỏ bao màu đỏ có trọng lượng 70 kg; 01 thùng cát tông nhãn hiệu KOKOMI, màu đỏ-vàng-đen có kích thước (30 x 40) được niêm phong bên trong có: 01 quần Jean màu xanh; 01 áo thun ngắn tay, màu xám; 01 mũ bảo hiểm, màu đen; 01 đôi giày vải, màu xanh.

01 USB có chứa hai đoạn video gồm: 01 đoạn video có thời lượng 52 giây, thời gian từ lúc 06 giờ 40 phút 37 giây đến 06 giờ 41 phút 29 giây ngày 13/7/2023 có dung lượng 1,3MB và 01 đoạn video có thời lượng 02 phút 37 giây, thời gian từ lúc 17 giờ 19 phút 10 giây đến 17 giờ 21 phút 48 giây ngày 12/7/2023, có dung lượng 3,2MB.

Bản kết luận số 85/KLĐG ngày 20 tháng 7 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện L kết luận: 02 bao cà ri khô, khối lượng mỗi bao 70kg, tong khối lượng 140kg có giá trị 5.600.000 đồng.

Bản kết luận số 86/KLĐG ngày 21 tháng 7 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 bao gạo, loại gạo ruộng, khối lượng 50 kg có giá trị 750.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Ngày 22/7/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả 01 bao cà ri hạt đã khô, đựng trong vỏ bao màu đỏ có trọng lượng 70 kg cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị H.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị H, Lê Thị Lệ T2, ông Huỳnh Công S không có yêu cầu Bùi Quốc Bảo T bồi thường gì. Ông Nguyễn V yêu cầu Bùi Quốc Bảo T bồi thường số tiền 750.000 đồng.

Đối với bà Nguyễn Thị N1, bà Lê Thị Lệ T2 và ông Huỳnh Công S là người mua tài sản do bị can Bùi Quốc Bảo T trộm cắp được, tuy nhiên khi mua các tài sản trên bà N1, bà T2 và ông S không biết đó là tài sản do bị can T phạm tội mà có nên không phải chịu truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 10/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố bị cáo Bùi Quốc Bảo T ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Bùi Quốc Bảo T không khiếu nại hay thắc mắc gì về bản Cáo trạng và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điềm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Quốc Bảo T từ 36 đến 48 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thi H2, ông Nguyễn V và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Lệ T2, ông Huỳnh Công S không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên không đặt ra để xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 USB có chứa hai đoạn video gồm: 01 đoạn video có thời lượng 52 giây, thời gian từ lúc 06 giờ 40 phút 37 giây đến 06 giờ 41 phút 29 giây ngày 13/7/2023 có dung lượng 1,3MB và 01 đoạn video có thời lượng 02 phút 37 giây, thời gian từ lúc 17 giờ 19 phút 10 giây đến 17 giờ 21 phút 48 giây ngày 12/7/2023, có dung lượng 3,2MB đề chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đề nghị lưu vào hồ sơ vụ án. Đối với 01 thùng cát tông nhãn hiệu KOKOMI, màu đỏ-vàng-đen có kích thước (30 x 40) được niêm phong bên trong có: 01 quần Jean màu xanh; 01 áo thun ngắn tay, màu xám; 01 mũ bảo hiểm, màu đen; 01 đôi giày vải, màu xanh là công cụ gây án nên đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là vợ chồng bà Lê Thị Lệ T2, ông Huỳnh Công S có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt của bà N1, bà T2, ông S không ảnh hưởng đến việc xét xử; đồng thời, không có ai đề nghị hoãn phiên tòa. Do đó, căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung là phù hợp.

Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội, tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, để có tiền sử dụng ma túy nên vào ngày 12,13/7/2023 bị cáo đã đến nhà của bà Nguyễn Thị H ở tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L trộm cắp 02 bao cà ri. Sau khi trộm cắp được bị cáo đem đến bán cho vợ chồng bà Lê Thị Lệ T2, ông Huỳnh Công S ở tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L được số tiền 1.450.000 đồng. Đến ngày 14/7/2023, bị cáo tiếp tục đến quầy tạp hóa của ông Nguyễn V ở thôn Đ, xã Đ, huyện L trộm cắp 01 bao gạo sau đó đem đến bán cho bà Nguyễn Thị N1 ở tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện L được 500.000 đồng. Tất cả số tiền bán cà ri và bán gạo bị cáo đã mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân hết.

[2.1] Tại bản kết luận số 85/KLĐG ngày 20 tháng 7 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện L kết luận: 02 bao cà ri khô, khối lượng mỗi bao 70kg, tổng khối lượng 140kg có giá trị 5.600.000 đồng. Tại bản kết luận số 86/KLĐG ngày 21 tháng 7 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 bao gạo, loại gạo ruộng, khối lượng 50 kg có giá trị 750.000 đồng.

[2.2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại, bản Cáo trạng truy tố và những tài liệu, chứng cứ khác được thể hiện trong hồ sơ như vậy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Quốc Bảo T phạm tội “Trộm cắp tài sản” như Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ.

[2.3] Xét nhân thân bị cáo là người có tiền án, cụ thể: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 80/2019/HSST ngày 19/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà đã xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 80/2021/HSST ngày 20/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xử phạt bị cáo 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, tại bản án này đã xác định hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/7/2022. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù thì đến ngày 12, 13, 14 tháng 7 năm 2023 bị cáo lại tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản và lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà truy tố bị cáo với tình tiết định khung theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2.4] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý, vì mục đích vụ lợi. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản trái phép của người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì để có tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở mất cách giác của chủ sở hữu để lén lút chiếm đoạt tài sản đem đi bán lấy tiền tiêu xài. Hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây nghi ngờ mất đoàn kết trong nội bộ nhân dân và làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do bị cáo đã gây ra.

[2.5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo phạm tội nhiều lần nên áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là tình tiết tăng nặng đối với bị cáo .

[2.6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Xét thấy, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[2.7] Từ những phân tích nhận định như trên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, đã nhiều lần bị kết án về tội chiếm đoạt nhưng bị cáo không chịu tu chí làm ăn lương thiện mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần chấp nhận quan điểm luật tội của đại diện Viện kiểm sát phải có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ đề cải tạo, giáo dục bị cáo sống biết tuân thủ pháp luật; đồng thời, nhằm răn đe giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung.

[3] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự ngoài hình phạt chính ra người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là nghiện ma túy, điều kiện kinh tế khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

[4.1] Đối với bị hại bà Nguyễn Thị H bị cáo trộm cắp 02 bao cà ri. Sau khi trộm cắp bị cáo đã bán cho vợ chồng bà T2, ông S thì bà H đã chuộc lại của vợ chồng bà T2, ông S 01 bao với giá 750.000 đồng; còn 01 bao thì Cơ quan điều tra đã thu hồi trả lại cho bà H. Tại phiên tòa bà H không yêu cầu vợ chồng ông S, bà T2 hay bị cáo phải bồi thường 750.000 đồng nên Hội đồng xét xử không đặt ra đề xem xét.

[4.2] Đối với bị hại ông Nguyễn V bị cáo trộm cắp 01 bao gạo ruộng. Sau khi trộm cắp bị cáo đã bán cho bà Nguyễn Thị N1, bà N1 đã bán lại cho người dân không thu hồi được. Tại phiên tòa ông Nguyễn V không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra đề xem xét.

[4.3] Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là vợ chồng bà Lê Thị Lệ T2, ông Huỳnh Công S, bà Nguyễn Thị N1 là người mua tài sản do bị cáo Bùi Quốc Bảo T trộm cắp được, tuy nhiên khi mua các tài sản trên bà T2, ông S, bà N1 không biết đó là tài sản do bị cáo T phạm tội mà có nên không phải chịu truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Đồng thời, vợ chồng bà T2, ông S không yêu cầu bị cáo T phải hoàn trả số tiền 700.000 đồng mà vợ chồng ông bà đã mua 01 bao cà ri nên Hội đồng xét xử không đặt ra đề xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 USB có chứa hai đoạn video gồm 01 đoạn video có thời lượng 52 giây, thời gian từ lúc 06 giờ 40 phút 37 giây đến 06 giờ 41 phút 29 giây ngày 13/7/2023 có dung lượng 1,3MB và 01 đoạn video có thời lượng 02 phút 37 giây, thời gian từ lúc 17 giờ 19 phút 10 giây đến 17 giờ 21 phút 48 giây ngày 12/7/2023, có dung lượng 3,2MB, Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên lưu vào hồ sơ vụ án. Đối với 01 thùng cát tông nhãn hiệu KOKOMI, màu đỏ-vàng-đen có kích thước (30 x 40) được niêm phong bên trong có: 01 quần Jean màu xanh; 01 áo thun ngắn tay, màu xám; 01 mũ bảo hiểm, màu đen; 01 đôi giày vải, màu xanh là công cụ gây án nên tuyên tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Quốc Bảo T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điềm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Quốc Bảo T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/7/2023.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên: Tịch thu tiêu 01 thùng cát tông nhãn hiệu KOKOMI, màu đỏ-vàng-đen có kích thước (30 x 40) được niêm phong bên trong có: 01 quần Jean màu xanh; 01 áo thun ngắn tay, màu xám; 01 mũ bảo hiểm, màu đen; 01 đôi giày vải, màu xanh.

(có đặc điểm như biên bản bàn giao vật chứng ngày 19/01/2024).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Bùi Quốc Bảo T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (02/02/2024) bị cáo, bị hại, có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo; riêng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, đề yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm (người có liên quan chỉ được quyền kháng cáo phần có liên quan).

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

87
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội trộm cắp tài sản số 18/2024/HS-ST

Số hiệu:18/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lâm Hà - Lâm Đồng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:02/02/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về