Bản án về tội trộm cắp tài sản số 18/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PH H CHÍ MINH

BẢN ÁN 18/2024/HS-ST NGÀY 24/01/2024 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 24 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 309/2023/TLST- HS ngày 18 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Phúc Nguyên B (tên gọi khác: Đại Bi), sinh ngày 04/02/2005 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ H, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành N, sinh năm: 19 76 và bà Ngô Thúy H, sinh năm: 1980; bị cáo chưa có vợ; tiền sự: Ngày 12/8/2022 bị Công an tỉnh T xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định số 542/QĐ-XLHC; tiền án: Không;

Bị cáo bị tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 20/9/2023 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Trần Hữu T, sinh năm: 2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp M, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh S, sinh năm: 1976 (chết) và bà Võ Thị H1, sinh năm: 1981; bị cáo chưa có vợ, tiền sự: Không; tiền án: Không;

Bị cáo bị tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 20/9/2023 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

- Ông Bùi Hữu N1, sinh năm: 1981 (Xin vắng mặt);

Địa chỉ: Tổ E, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Ông Thạch Đ, sinh năm: 1981 (Xin vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1964 (Xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Vũ Tiến Đ1, sinh năm: 1974 (Vắng mặt).

Địa chỉ: số A đường B, khu phố G, phường T, T, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 15/7/2023, Công an xã T, huyện C tuần tra phát hiện Nguyễn Phúc Nguyên B và Trần Hữu T có biểu hiện nghi vấn nên mời về làm việc. Sau khi làm việc B và T khai nhận các hành vi trộm cắp tài sản như sau:

- Vụ thứ 1: Vào ngày 11/6/2023, Nguyễn Phúc Nguyên B đến nhà mẹ ruột của Trần Hữu T tại ấp B, xã T, huyện C để gặp Trọng chơi, B rủ T đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền chia nhau tiêu xài thì T đồng ý. Đến 01 giờ 00 phút ngày 12/6/2023, T và B đi bộ đến đường K thuộc ấp B, xã T, huyện C để tìm tài sản lấy trộm, khi đi trên đường kênh N38 thì B phát hiện một xe mô tô biển số 51Y9-2xxx hiệu Jupiter màu xanh đang dựng trong chòi và có người đàn đang nằm ngủ trên giường nên B kêu T vào lấy tài sản, B đứng ngoài canh, T lén lút đến gần chòi rồi đẩy xe mô tô biển số 51Y9-2xxx lên đường kênh N38, thấy chìa khóa còn cắm trong ổ khóa xe nên mở chìa khóa xe, đề máy nổ điều khiển xe chở B tẩu thoát. Sau đó B và T mang xe máy vừa trộm đến cửa hàng K tại số A, đường B, khu phố G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh bán cho ông Vũ Tiến ĐI là chủ cửa hàng với giá 1.000.000đ, B và T nói không có giấy đăng ký xe và xe gia đình dùng để cắt cỏ, kẹt tiền cần bán nên ông Đ1 đồng ý mua, B vào T lấy tiền chia nhau tiêu xài.

- Vụ thứ 2: Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 26/6/2023, T và B đi bộ trên đường K tại ấp B, xã T, huyện C tìm tài sản để trộm thì nhìn thấy một xe mô tô biển số 84K3-23xx nhãn hiệu Wave đang dựng trên bờ kênh N38 không có người trông coi, B đứng canh để T đi đến vị trí xe mô tô biển số 84K3-23xx, lén lút dùng tay bứt đứt dây điện xe mô tô, đạp xe máy nổ tẩu thoát. Sau đó B và T mang xe máy vừa trộm đến cửa hàng K tại số A, đường B, khu phố G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh bán cho ông Vũ Tiến ĐI là chủ cửa hàng với giá 1.300.000đ chia nhau tiêu xài.

- Vụ thứ 3: Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 13/7/2023, T và B đi bộ đến đường K tại ấp B, xã T, huyện C để tìm kiếm tài sản lấy trộm thì nhìn thấy một xe mô tô biển số 53Y8-00xx nhãn hiệu Dream đang dựng trên đường K không có người trông coi, B đứng canh để T đi đến vị trí xe mô tô biển số 53Y8-00xx lén lút dùng tay bứt đứt dây điện xe mô tô ,đạp xe máy nổ tẩu thoát. Sau đó B và T mang xe máy vừa trộm đến cửa hàng K tại số A, đường B, khu phố G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh bán cho ông Vũ Tiến Đ1 là chủ cửa hàng với giá 800.000đ chia nhau tiêu xài.

Qua làm việc, ông Vũ Tiến Đ1 không biết tài sản 03 xe mô tô trên là do T và B phạm tội mà có và đà giao nộp lại xe mô tô biến số 51Y9-2xxx, riêng xe mô tô biển số 84K3-23xx và xe mô tô biển số 53Y8-00xx ông Đ1 đã bán cho người khác, không có hóa đơn chứng từ nên không thu hồi được.

Kiểm tra chất ma túy trong nước tiểu đối với B và T kết quả đều dương tính với ma tuý tổng hợp.

Kết luận số 176/KL-HĐĐGTS ngày 03/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân huyện C kết luận:

- Xe mô tô biển số 51Y9-2xxx nhãn hiệu Jupiter màu xanh, số máy VLFFMIP52FMH34M100905, số khung VFMPCH074FM000886 đã qua sử dụng co giá là 3.000.000đ.

- Xe mô tô biển số 84K3-23xx nhãn hiệu Wave, số máy MSA2BH019510, số khung 10BH7H019510 đã qua sử dụng có giá là 3.500.000đ.

- Xe mô tô biển số 53Y8-00xx nhãn hiệu Dream, số máy IP50FM310048436, số khung VFCPCGOA3YF007636 đã qua sử dụng có giá là 2.000.000đ.

Vật chứng thu giữ: Xe mô tô biển số 51Y9-2xxx nhãn hiệu Jupiter màu xanh, số máy VLFFMIP52FMH34M100905, số khung VFMPCH074FM000886 đã qua sử dụng, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đà trả lại cho ông Nguyễn Văn L là chủ sở hữu hợp pháp.

Tại Cáo trạng số 06/CT-VKS.CC ngày 14/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị can Nguyễn Phúc Nguyên B và bị cán Trần Hữu T về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Phúc Nguyên B đã thừa nhận toàn bộ hành vi và khai rằng: Bị cáo nghỉ học từ năm lớp 6, sống với ba mẹ và phụ giúp ba mẹ hằng ngày, do tiền ba mẹ cho không đủ tiêu xài, bị cáo còn nghiện ma túy nên có ý định trộm tài sản bán lấy tiền xài và mua ma túy sử dụng. Bị cáo và bị cáo Trần Hữu T là bạn bè xã hội được hơn 04 năm, ngày 11/6/2023, bị cáo đến nhà mẹ ruột của bị cáo T tại ấp B, xã T, huyện C chơi. Sau đó bị cáo rủ bị cáo T đi tìm tài sản lấy trộm bán chia nhau tiêu xài thì bị cáo T đồng ý. Đến 01 giờ 00 phút ngày 12/6/2023, bị cáo cùng bị cáo T đi bộ từ nhà mẹ của bị cáo T đến đường K thuộc ấp B, xã T, huyện C để tìm tài sản lấy trộm, khi đi trên đường kênh N38 thì bị cáo phát hiện một xe mô tô biển số 51Y9-2xxx hiệu Jupiter màu xanh đang dựng trong chòi lá và có người đàn ông đang nằm ngủ trên giường, bị cáo kêu bị cáo T vào lấy tài sản, còn bị cáo đứng ngoài canh, bị cáo T đi đến chỗ dựng xe máy, lén lút đẩy xe mô tô biển số 51Y9-2xxx lên đường Kênh N38, bị cáo Trọng đề máy nổ điều khiển xe vừa trộm chở bị cáo tẩu thoát. Sau đó bị cáo và bị cáo T mang xe máy vừa trộm đến cửa hàng K tại số A, đường B, khu phố G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh để bán, bị cáo và bị cáo T gặp ông Đ1 là chủ cửa hàng nói xe của gia đình dùng để cắt cỏ, kẹt tiền cần bán, xe không có giấy, ông Đ1 đồng ý mua với giá 1.000.000đ, sau khi nhận tiền bị cáo và bị cáo B chia mỗi bị cáo 500.000đ tiêu xài và mua ma túy sử dụng. Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 26/6/2023, bị cáo cùng với bị cáo T đi bộ đến đường bờ kênh N38 để tìm kiếm tài sản lấy trộm thì phát hiện một xe mô tô biển số 84K3-23xx nhãn hiệu Wave đang dựng trên bờ Kênh N38 không có người trông giữ, bị cáo đứng canh để bị cáo T đi đến vị trí xe mô tô biển số 84K3-23xx, lén lút lấy trộm xe máy chở bị cáo tẩu thoát. Sau đó bị cáo cùng với bị cáo T đến cửa hàng K của ông Đ1 bán với giá 1.300.000đ chia nhau tiêu xài, ông Đ1 có hỏi xe của ai thì bị cáo nói xe của bị cáo, không có trộm cắp nên ông Đ1 đồng ý mua. Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 13/7/2023, bị cáo và bị cáo T đi bộ đến đường K để tìm kiếm tài sản lấy trộm thì nhìn thấy một xe mô tô biển số 53Y8-00xx nhãn hiệu Dream đang dựng trên đường K không có người trông coi, bị cáo đứng canh để bị cáo T đi đến vị trí xe mô tô biển số 53Y8-00xx lén lút lấy trộm, nổ máy chở bị cáo tẩu thoát và mang đến cửa hàng K bán cho ông Đ1 với giá 800.000đ chia nhau tiêu xài, ông Đ1 có hỏi xe của ai thì bị cáo nói xe của bị cáo, không phải trộm cắp nên ông Đ1 đồng ý mua. Đến khoảng 23 giờ 00 phút ngày 15/7/2023 bị cáo cùng với bị cáo T đang đi bộ trên đường B để tìm kiếm tài sản lấy trộm thì bị Công an xã T, huyện C đi tuần tra phát hiện nên mời về Công an xã làm việc, bị cáo đã nói với ba mẹ bị cáo bồi thường thiệt hại cho những người bị mất xe.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Hữu T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai rằng: Bị cáo là bạn bè xã hội với bị cáo B, bị cáo cũng nghiện ma túy nên cần tiền để tiêu xài và mua ma túy sử dụng, ngày 11/6/2023, bị cáo B đến nhà mẹ ruột của bị cáo tại ấp B, xã T, huyện C chơi. Sau đó bị cáo B rủ bị cáo đi tìm tài sản lấy trộm bán chia nhau tiêu xài thì bị cáo đồng ý. Đến 01 giờ 00 phút ngày 12/6/2023, bị cáo cùng bị cáo B đi bộ từ nhà của mẹ bị cáo đến đường K thuộc ấp B, xã T, huyện C để tìm tài sản lấy trộm, khi đi trên đường K thì bị cáo B phát hiện một xe mô tô biển số 51Y9-2xxx hiệu Jupiter màu xanh đang dựng trong chòi lá và có người đàn ông đang nằm ngủ trên giường, bị cáo B kêu bị cáo vào lấy tài sản, còn bị cáo B đứng ngoài canh, bị cáo đi đến chỗ dựng xe máy, lén lút đẩy xe mô tô biển số 51Y9-2xxx lên đường Kênh N38 rồi đề máy nổ, điều khiển xe vừa trộm chở bị cáo B tẩu thoát. Sau đó bị cáo và bị cáo B mang xe máy vừa trộm đến cửa hàng K tại số A, đường B, khu phố G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh bán được 1.000.000đ chia nhau tiêu xài, ông Đ1 hỏi thì bị cáo và bị cáo B nói xe của nhà dùng để cắt cỏ, cần tiền nên bán. Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 26/6/2023, bị cáo cùng với bị cáo B đi bộ đến đường bờ Kênh N38 để tìm kiếm tài sản lấy trộm thì phát hiện một xe mô tô biển số 84K3-23xx nhãn hiệu Wave đang dựng trên bờ Kênh N38 không có người trông coi, bị cáo B đứng canh để bị cáo đi đến vị trí xe mô tô biển số 84K3-23xx lén lút bứt dây điện, nổ máy xe máy chở bị cáo B tẩu thoát. Sau đó bị cáo cùng với bị cáo B đến cửa hàng K bán được 1.300.000đ chia nhau tiêu xài, bị cáo B nói xe của bị cáo B, cần tiền nên bán. Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 13/7/2023, bị cáo và bị cáo B đi bộ đến đường K để tìm kiếm tài sản lấy trộm thì nhìn thấy một xe mô tô biển số 53Y8-00xx nhãn hiệu Dream đang dựng trên đường K không có người trông coi, bị cáo B đứng canh để bị cáo đi đến vị trí xe mô tô biển số 53Y8-00xx lén lút bứt dây điện, nổ máy chở bị cáo B tẩu thoát và mang đến cửa hàng K bán được 800.000đ chia nhau tiêu xài, bị cáo B nói xe của bị cáo B, không phải trộm cắp. Đến khoảng 23 giờ 00 phút ngày 15/7/2023, bị cáo cùng với bị cáo B đang đi bộ trên đường B để tìm kiếm tài sản lấy trộm thì bị Công an xã T, huyện C đi tuần tra phát hiện nên mời về Công an xã làm việc, bị cáo đã nói với chị bị cáo bồi thường thiệt hại cho những người bị mất xe.

Tại phiên tòa, bị hại là ông Nguyễn Văn L có đơn xin vắng mặt, lời khai của ông L tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và tại hồ sơ thể hiện: Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 12/6/2023, ông đang ngủ trong chòi tại bờ Kênh N thuộc ấp B, xã T, huyện C thì nghe tiếng động, ông phát hiện có 02 người lấy trộm xe máy biển số 51Y9-2xxx của ông nên đuổi theo nhưng không kịp. Đến ngày 16/7/2023 ông nghe thông tin Công an xã T, huyện C thông báo có bắt được kẻ đã trộm tài sản ở bờ kênh N38 trước đó nên ông đến Công an xã trình báo. Quá trình điều tra, ông đã được nhận lại xe máy biển số 51Y9-2xxx nên không yêu cầu gì.

Tại phiên tòa, bị hại là ông Thạch Đ có đơn xin vắng mặt, lời khai của ông L tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và tại hồ sơ thể hiện: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 26/6/2023, ông điều khiển xe máy biển số 84K3-23xx đến bờ Kênh N thuộc ấp B, xã T, huyện C để bắt ốc, đến 23 giờ 00 phút cùng ngày ông nghe tiếng nổ máy xe thì phát hiện xe máy của ông bị lấy trộm nên đuổi theo nhưng không kịp. Đến ngày 16/7/2023 ông nghe Công an xã T, huyện C thông báo có bắt được kẻ đã trộm tài sản ở bờ Kênh N trước đó nên ông đến Công an xã trình báo. Quá trình điều tra, xe máy của ông không thu hồi được, ông đã được gia đình bị cáo B và bị cáo T bồi thường số tiền 3.000.000đ nên không yêu cầu gì thêm.

Tại phiên tòa, bị hại là ông Bùi Hữu N1 có đơn xin vắng mặt, lời khai của ông N1 tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và tại hồ sơ thể hiện: Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 13/7/2023, ông điều khiển xe máy biển số 53Y8-00xx đến bờ Kênh N thuộc ấp B, xã T, huyện C để bắt ếch, đến 23 giờ 30 phút cùng ngày thì ông nghe tiếng nổ máy xe thì phát hiện xe máy của ông bị lấy trộm nên đuổi theo nhưng không kịp. Đến ngày 16/7/2023 ông nghe Công an xã T, huyện C thông báo có bắt được kẻ đà trộm tài sản ở bờ kênh N38 trước đó nên ông đến Công an xã trình báo. Quá trình điều tra, xe máy của ông không thu hồi được, ông đã được gia đình bị cáo B và bị cáo T bồi thường số tiền 3.500.000đ nên ông không yêu cầu gì thêm.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Vũ Tiến Đ1 vắng mặt, lời khai của ông Đ1 tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C thể hiện: Ngày 12/6/2023 có người thanh niên đến cửa hàng phế liệu của ông để bán xe máy biển số 51Y9-2xxx, ông hỏi xe có giấy tờ gì không thì người thanh niên nói xe của nhà dùng để cắt cỏ, nay không còn sử dụng nên bán, xe không có giấy tờ, ông mua giá 1.000.000đ thì người thanh niên đồng ý. Khoảng một tháng sau thì người thanh niên có quay lại tiếp tục bán cho ông 01 xe máy biển số 84K3-23xx giá 800.000đ và 01 xe máy biển số 53Y8-00xx giá 1.300.000đ, ông có hỏi thì người thanh niên nói xe của người thanh niên, không phải xe trộm cắp, vì cần tiền nên bán. Ông đã bán lại xe máy biến số 84K3-23xx và xe máy biển số 53Y8-00xx cho người khác. Sau đó Công an phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh đến cửa hàng của ông làm việc thì ông mới biết xe máy mà ông mua của người thanh niên do phạm tội mà có, ông đã tự nguyện giao nộp lại xe máy biển số 51Y9-2xxx cho Công an, ông không có yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng Điều 38, Khoản 1 Điều 173, Điểm b, s Khoản 1 Điều 51, Điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc Nguyên B mức án từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 02 (H2) năm tù.

- Áp dụng Điều 38, Khoản 1 Điều 173, Điểm b, s Khoản 1 Điều 51, Điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Hữu T mức án từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 02 (H2) năm tù.

Bị cáo Nguyễn Phúc Nguyên B không tranh luận, không tự bào chữa.

Bị cáo Trần Hữu T không tranh luận, không tự bào chữa.

Bị cáo Nguyễn Phúc Nguyên B nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi của mình, bị cáo mong Hội đồng xét xử xử mức án thấp nhất để sớm về phụ giúp gia đình.

Bị cáo Trần Hữu T nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi của mình, bị cáo mong Hội đồng xét xử xử mức án thấp nhất để sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có tham quyền tiến hành tố tụng, người có thm quyền tiến hành tố tụng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh; điều luật áp dụng; tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Bị cáo Nguyễn Phúc Nguyên B và bị cáo Trần Hữu T có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của ông Nguyễn Văn L là xe máy biển số 51Y9-2xxx trị giá 3.000.000đ vào ngày 12/6/2023, của ông Thạch Đ là xe máy biển số 84K3-23xx trị giá 3.500.000đ vào ngày 26/6/2023 và của ông Nguyễn Hữu N2 là xe máy biển số 53Y8-00xx trị giá 2.000.000đ vào ngày 13/7/2023 với tổng giá trị là 8.500.000đ (Theo Kết luận số 176/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện C ngày 03/8/2023). Bằng hành vi nêu trên thì bị cáo B và bị cáo T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo B và bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng đến đời sống và sinh hoạt tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo nhận thức rõ việc các bị cáo chiếm đoạt tài sản là sai trái, phạm pháp, thế nhưng các bị cáo vẫn ngang nhiên đi đến hành động phạm tội nhằm thoả mãn động cơ tư lợi của cá nhân các bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử lý các bị cáo bằng một hình phạt nghiêm là cần thiết.

Trong vụ án này, bị cáo B là người rủ bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo T là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên vai trò của bị cáo B và bị cáo T là như nhau.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo B và bị cáo T đã thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần nên thuộc trường hợp phạm tội hai lần trở lên theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điểm b, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét quyết định về hình phạt cho các bị cáo là có căn cứ.

[5] Về vật chứng vụ án:

Xe mô tô biển số 51Y9-2xxx nhãn hiệu Jupiter màu xanh, số máy VLFFMIP52FMH34M100905, số khung VFMPCH074FM000886 đã qua sử dụng. Quá trình điều tra đà trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Ông Nguyễn Văn L đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu gì, ông Thạch Đ và ông Nguyễn Hữu N2 đã được gia đình các bị cáo bồi thường thiệt hại nên không yêu cầu gì thêm, do vậy Hội đồng xét xử không xét.

[7] Về các vấn đề khác:

Trong vụ án này còn có ông Vũ Tiến Đ1 là người đã mua tài sản do các bị cáo phạm tội mà có, ông Đ1 không biết các tài sản mà ông đã mua của các bị cáo là do các bị cáo phạm tội mà có, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xử lý đối với ông Đ1 là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xét.

[8] Về nghĩa vụ chịu án phí:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phúc Nguyên B và bị cáo Trần Hữu Trọng phạm t “Trộm cắp tài sản”.

1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173, Điểm b, s Khoản 1 Điều 51, Điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc Nguyên B 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/9/2023.

2. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173, Điểm b, s Khoản 1 Điều 51, Điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Hữu T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/9/2023.

3. Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và lệ phí năm 2015 và Đ2 a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Phúc Nguyên B và bị cáo Trần Hữu T mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

4. Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Riêng bị hại, người cơ quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

87
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội trộm cắp tài sản số 18/2024/HS-ST

Số hiệu:18/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Củ Chi - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:24/01/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về