TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - TỈNH LẠNG SƠN
BẢN ÁN 16/2025/HS-ST NGÀY 17/09/2025 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Ngày 17 tháng 9 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xửTòa án nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn kết nối với điểm cầu thành phần tại Phân trại tạm giam B – Trại tạm giam Công an tỉnh L. Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn xét xử công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2025/TLST- HS ngày 29 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
Luân Văn V, sinh ngày 14 tháng 7 năm 1983 tại xã H, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã H, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Luân Văn T (đã chết) và bà Nông Thị P; vợ Lương Thị H và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 02/12/2022 bị Công an xã H, tỉnh Lạng Sơn xử phạt hành vi hành chính trong lĩnh vực phòng, chống tệ nạn xã hội theo quyết định số 39/QĐ-XPHC; bị bắt tạm giam tại Phân trại tạm giam B – Trại tam giam Công an tỉnh L từ ngày 18/6/2025 đến nay. Có mặt tại điểm cầu thành phần.
* Bị hại: Anh Hoàng Văn T1, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Thôn V, xã H, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt tại điểm cầu trung tâm.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lý Văn D, sinh năm 1949.
Địa chỉ: Thôn V, xã H, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt tại điểm cầu trung tâm.
* Người làm chứng: Bà Lý Thị K, sinh năm 1976. Vắng mặt tại điểm cầu trung tâm.
* Người tham gia tố tụng khác:
1. Ông Lành Văn Đ - Cán bộ Phân trại tạm giam B – Trại tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt tại điểm cầu thành phần.
2. Ông Dương Công H1 - Cán bộ Phân trại tạm giam B – Trại tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt tại điểm cầu thành phần.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 15/6/2025, bị cáo Luân Văn V, sinh năm 1983, trú tại thôn T, xã H, tỉnh Lạng Sơn (trước đây là thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn) từ nhà đến viếng đám tang con trai của ông Lý Văn D, sinh năm 1949, trú tại thôn V, xã H, tỉnh Lạng Sơn (trước đây là thôn V, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn). Khoảng 20 giờ, sau khi viếng xong, bị cáo Luân Văn V ngồi uống nước, nói chuyện cùng với anh Hoàng Văn T1, Lý Văn C, Lý Thị K, cùng trú tại thôn V, xã H, tỉnh Lạng Sơn. Những người trên đang ngồi ở nền gạch trong nhà, trong đó: Bị cáo Luân Văn V ngồi cạnh bên phải của Hoàng Văn T1, còn Lý Văn C và Lý Thị K ngồi phía bên phải Luân Văn V. Khi mời T1 uống rượu, bị cáo nhìn thấy Hoàng Văn T1 đang đeo một chiếc túi da màu nâu đeo chéo người, vị trí túi ở khu vực thắt lưng bên phải, ngăn khóa trong chiếc túi da không khóa, trong ngăn có một cọc tiền mặt được buộc bằng dây nịt, gồm nhiều tờ tiền với nhiều mệnh giá khác nhau. Đây là tiền của ông Lý Văn D giao cho Hoàng Văn T1 sử dụng chi tiêu phục vụ đám tang. Do muốn có tiền để chi tiêu cá nhân nên bị cáo Luân Văn V đã nảy sinh ý định trộm cắp số tiền trên. Bị cáo dùng tay phải cầm chén rượu mời Hoàng Văn T1, rồi dùng tay trái xoa, đặt lên lưng Hoàng Văn T1. Khi Hoàng Văn T1 cầm chén rượu uống, bị cáo quan sát xung quanh thấy mọi người không để ý thì dùng tay trái nhanh chóng cầm lấy cọc tiền trong túi của Hoàng Văn T1 rồi để xuống dưới nền gạch ngay dưới đùi bên trái của bị cáo và tiếp tục nói chuyện với Hoàng Văn T1. Một lúc sau Hoàng Văn T1 đứng dậy đi ra ngoài, bị cáo dùng tay trái cầm cọc tiền đặt áp sát vào dưới đùi trái của bị cáo rồi quay người sang bên phải hướng Lý Thị K đang ngồi. Sau đó bị cáo để cọc tiền xuống nền gạch và dùng mặt dưới đùi bên trái đè lên cọc tiền. Tiếp tục quan sát xung quanh thấy không có ai để ý, bị cáo dùng tay phải luồn xuống bên dưới đùi trái cầm cọc tiền nhanh chóng cất vào túi quần đằng sau bên phải và ngồi nói chuyện được một lúc thì xin phép đi về nhà. Nhưng bị cáo không về nhà luôn mà đến nhà Nguyễn Thế H2, trú tại thôn T, xã H, tỉnh Lạng Sơn và ngồi uống rượu. Đến 23 giờ 05 phút cùng ngày, khi bị cáo đang ngồi uống rượu tại nhà Nguyễn Thế H2 thì Công an xã H, tỉnh Lạng Sơn mời lên trụ sở để làm rõ toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo đã giao nộp toàn bộ số tiền 11.733.000đ (mười một triệu, bảy trăm ba mươi ba nghìn đồng) trộm cắp được từ Hoàng Văn T1 cho cơ quan Công an và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của bản thân.
Ngày 18/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L quyết định trưng cầu giám định số tiền Luân Văn V trộm cắp được là tiền thật hay tiền giả. Tại Kết luận giám định số 470/KL-KTHS ngày 25/6/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Số tiền Việt Nam gồm 11.733.000đ (mười một triệu bảy trăm ba mươi ba nghìn đồng) trong phong bì niêm phong gửi giám định là tiền thật.
Tại Bản cáo trạng số 10/CT-VKS-KV3 ngày 28/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn truy tố bị cáo Luân Văn V về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Bị hại anh Hoàng Văn T1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lý Văn D có đơn xin giải quyết vắng mặt và không có ý kiến gì, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Vật chứng của vụ án, gồm: Số tiền 11.733.000đ (Mười một triệu, bảy trăm ba mươi ba nghìn đồng); 01 (một) túi da màu nâu, cũ đã qua sử dụng. Ngày 27/6/2025, xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã quyết định xử lý vật chứng trả lại số tiền và chiếc túi trên cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Lý Văn D và anh Hoàng Văn T1.
Tại phiên tòa, bị cáo Luân Văn V khai nhận, hành vi trộm cắp tài sản như Cáo trạng truy tố ra trước Tòa là đúng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Luân Văn V phạm tội Trộm cắp tài sản:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Luân Văn V từ 08 tháng đến 10 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 18/6/2025).
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, không có thu nhập ổn định và tài sản riêng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát; lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo, sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về việc xét xử vắng mặt bị hại anh Hoàng Văn T1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Lý Văn D, người làm chứng chị Lý Thị K được Tòa án nhân dân khu vực 3 triệu tập hợp lệ đến phiên tòa và đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy bị cáo yêu cầu xử vắng mặt; mặt khác trong hồ sơ Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai những người này, bị cáo cũng đã thừa nhận hành vi phạm tội. Việc vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án; do đó căn cứ khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người trên.
[3] Về căn cứ buộc tội: Tại phiên toà bị cáo Luân Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và cũng phù hợp với các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Khoảng 20 giờ ngày 15/6/2025, tại nhà ông Lý Văn D tại thôn V, xã H, tỉnh Lạng Sơn, Luân Văn V đã có hành vi trộm cắp số tiền 11.733.000đ (mười một triệu, bảy trăm ba mươi ba nghìn đồng) là tài sản của gia đình ông Lý Văn D giao cho Hoàng Văn T1 chi tiêu trong đám tang. Vì vậy, có căn cứ xác định bị cáo Luân Văn V phạm tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng hành vi của bị cáo lợi dụng sơ hở của bị hại nên đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi của bị cáo thực hiện là coi thường pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Hành vi đó cần phải được xử nghiêm minh trước pháp luật.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn đề nghị giảm trách nhiệm hình sự, bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng: Không có.
[7] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu. Ngày 02/12/2022, bị cáo bị Công an xã H, tỉnh Lạng Sơn xử phạt cảnh cáo hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại quyết định số 39/QĐ-XPHC.
[8] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Nhưng xét thấy bị cáo không có tài sản và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
đến vụ án không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Căn cứ theo Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
[11] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt cũng như các vấn đề khác đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[12] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào Điều 135; Điều 136; Điều 262; khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 293; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Luân Văn V phạm tội Trộm cắp tài sản.
Xử phạt bị cáo Luân Văn V 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 18/6/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về án phí: Bị cáo Luân Văn V phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.
3. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Bản án về tội trộm cắp tài sản số 16/2025/HS-ST ngày 17/09/2025
| Số hiệu: | 16/2025/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Lạng Sơn - Lạng Sơn |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 17/09/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về