Bản án về tội trộm cắp tài sản số 156/2023/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

BẢN ÁN 156/2023/HS-ST NGÀY 21/09/2023 VỀ TỘI RỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 21 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 125/2023/TLST-HS ngày 19/7/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 180/2023/QĐXXST-HS ngày 11/9/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Anh T; sinh năm 1992 tại thành phố Q, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Tổ D, khu V, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Công nhân công ty A; Trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Không rõ và bà: Nguyễn Thị C, sinh năm 1970; Vợ: Võ Nữ Thúy H, sinh năm: 1991, có 02 người con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Chị Trần Hồng P, sinh năm: 1986 và anh Đỗ Trọng H1, sinh năm: 1979 (Chị P, anh H1 vắng mặt).

Đồng trú tại: Lô H, khu phố T, KV H, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

2. Ông Phạm Hồng Y, sinh năm: 1962 và bà Bùi Thị Thanh X, sinh năm: 1965 (Ông Y, bà X có mặt).

Đồng trú tại: B Q, thị trấn N, huyện P, tỉnh Bình Định.

3. Chị Trần Thị H2, sinh năm: 1984 và anh Phạm Anh D, sinh năm: 1961 (Chị H2, anh D vắng mặt).

Đồng trú tại: Lô A, khu phố T, KV H, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Huỳnh Đức H3, sinh năm: 1992 (vắng mặt).

Trú tại: HẻmèmHem32 F T, P. Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

2. Anh Đỗ Xuân H4, sinh năm: 1994 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Trú tại: Tổ C, khu phố I, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

3. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1969 (vắng mặt).

Trú tại: Tổ D, khu phố E, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

- Người làm chứng:

1. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm: 1970 (vắng mặt).

Trú tại: Tổ 46, khu vực 9, phường Đống Đa, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

2. Chị Võ Nữ Thúy H, sinh năm: 1991 (vắng mặt).

Trú tại: Tổ D, khu phố E, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

3. Ông Trần T1, sinh năm: 1960 (vắng mặt).

Trú tại: Tổ D, khu phố H, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

4. Bà Lý Lệ C1, sinh năm: 1962 (vắng mặt).

Trú tại: Tổ D, khu phố H, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 21/3/2022, vì cần tiền trả nợ nên Nguyễn Anh T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền trả nợ. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Anh T đi bộ từ nhà ở Tổ D, KV I, P. Đ, TP . đến Khu B thuộc KV H, P. Đ, TP .Q, trèo qua tường rào bảo vệ của Khu B, đột nhập vào bên trong tìm nhà nào sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi qua nhà chị Trần Hồng P (sinh năm: 1986, trú: Tổ 41, KV H, P. Đ, TP .Q) hiện ở Lô H Khu B, T phát hiện cửa thông gió nhà vệ sinh nhà chị P mở. T tìm xung quanh thì thấy 01 con dao “Thái Lan” nên dùng con dao này vặn ốc vít mở khung sắt bảo vệ cửa thông gió nhà vệ sinh rồi trèo vào trong nhà. Khoảng hơn 00 giờ ngày 22/3/2022, T đi bộ lên tầng 2 căn nhà thì thấy quần dài của anh Đỗ Trọng H1 (sinh năm: 1979, trú cùng địa chỉ, là chồng chị P) ở gần cầu thang nên T lục trong túi quần trộm số tiền 2.000.000 đồng. Sau đó, T đi xuống tầng trệt mở cửa sổ và lấy trộm 03 tượng gỗ “Phúc”, “L”, “Thọ” của vợ chồng chị P đang để trên kệ tivi phòng khách đem ra sân phía sau ngôi nhà. T tiếp tục ra sân đỗ xe ô tô phía trước căn nhà, mở cửa xe ô tô hiệu Ford Ranger màu cam, biển số 77C – 162.xx của vợ chồng chị P lấy trộm 01 bộ đèn năng lượng mặt trời hiệu “Jindian” của vợ chồng chị P để trong xe ô tô. Sau đó, T quay về nhà lấy xe đạp (của bà Nguyễn Thị C – trú cùng địa chỉ, mẹ ruột của T) chở 03 tượng gỗ và 01 bộ đèn năng lượng mặt trời đã lấy trộm được về nhà cất giấu. Chiều ngày 26/3/2022, T gọi điện cho anh Huỳnh Đức H3 (sinh năm: 1992, trú: Thôn L, xã N, TP .Q, chủ cửa hàng đồ cũ H, địa chỉ B Đ, P. T, TP . đến nhà T để mua 03 tượng gỗ tạc hình các ông “P1”, “L”, “T2”. Anh H3 mua lại 03 tượng gỗ trên với giá 2.000.000 đồng, sau đó tân trang lại bộ tượng rồi đăng bán trên trang Facebook “Đồ cũ Hoàn Y – Quy Nhơn 0971713xxx” của cửa hàng. Ngày 02/4/2022, Cơ quan Công an phát hiện 03 tượng gỗ được đăng bán trên trang Facebook có đặc điểm giống với 03 tượng gỗ bị mất của vợ chồng chị P nên tiến hành làm việc với anh H3. Anh H3 khai đã mua 03 tượng này từ T và giao nộp lại 03 tượng trên cho Cơ quan Công an. Qua điều tra, Cơ quan Công an đưa Nguyễn Anh T về làm việc, T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên và tự nguyện giao nộp 01 bộ đèn năng lượng mặt trời mà T đã trộm tại nhà Lô H Khu B. Số tiền 2.000.000 đồng trộm được và 2.000.000 đồng tiền bán 03 tượng gỗ, T đã tiêu xài hết.

Ngày 18/12/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP . kết luận:

+ 01 bộ tượng tam đa “Phúc – L – Thọ” chất liệu gỗ cẩm lai đỏ, sơn màu nâu đậm, gồm 03 tượng “P1”, “L”, “T2” kích thước mỗi tượng giống nhau:

65cm x 23cm x 18cm, tượng ông T2 có một vết nứt từ phần đầu đến giữa bụng, đã qua sử dụng, trị giá 7.000.000 đồng.

+ 01 bộ đèn năng lượng mặt trời hiệu Jindian (gồm: 01 bóng đèn led có khung kim loại hình nón bọc ngoài, 01 tấm pin năng lượng mặt trời, 01 dây sạc pin, 01 remote), chưa qua sử dụng, trị giá 750.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định được, với thủ đoạn tương tự, lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu trong việc trông coi, quản lý tài sản. Trong khoảng thời gian từ giữa tháng 7/2020 đến đầu tháng 3/2022, Nguyễn Anh T đã thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản khác tại Khu B, TP ., cụ thể như sau:

- Vụ thứ nhất: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 17/7/2020, Nguyễn Anh T đi bộ từ nhà đến Khu B. Đến khoảng hơn 00 giờ 10 phút ngày 18/7/2020, T thấy cổng sắt kéo bên trái cổng chính vào Khu biệt thự không khóa nên kéo cửa đi vào trong. T đi dạo tìm nhà sơ hở để trộm cắp tài sản thì thấy cửa kính phòng khách của nhà ông Phạm Hồng Y (sinh năm: 1962, trú: 240 Q, thị trấn N, huyện P, tỉnh Bình Định) ở Lô B Khu B không khoá nên mở cửa, vào phòng bếp ở tầng trệt ngôi nhà lấy trộm 01 tượng hình ông “Phúc” bằng gỗ trong bộ tượng tam đa “P1 - L - T2” ở góc phòng rồi bưng tượng gỗ về nhà mình cất giấu. Tượng gỗ này T bán không được nên đã vứt bỏ, Cơ quan điều tra không thu hồi được.

- Vụ thứ hai: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 21/7/2020, Nguyễn Anh T đi xe đạp (của bà Nguyễn Thị C) đến nhà ông Phạm Hồng Y để tiếp tục trộm cắp tài sản vì T biết nhà ông Y còn nhiều tài sản khác. Khoảng hơn 00 giờ 30 phút ngày 22/7/2020, T lên tầng 2 ngôi nhà mang từng món đồ của bộ bàn ghế salon gỗ trầm thị gồm 08 món (01 bàn lớn, 01 bàn nhỏ, 06 ghế) ra khỏi ngôi nhà.

Nguyễn Anh T biết tại lô đất trống ngã tư đường H - T, TP .Q có 01 xe xích lô đang dựng ở đây (không rõ của ai) nên T đi đến lấy 01 xe xích lô này quay lại nhà ông Y, chở bộ bàn ghế salon gỗ đã trộm về nhà T cất giấu. Sau khi chở xong thì T trả xe xích lô về chỗ cũ rồi đi xe đạp về nhà. Khoảng 02 ngày sau, T bán bộ bàn ghế này cho anh Huỳnh Đức H3 (chủ tiệm đồ cũ “Hoàn Y”) với giá 33.000.000 đồng. Tháng 8/2021, bộ bàn ghế trên bị cháy tại tiệm đồ cũ “Hoàn Y”, Cơ quan điều tra không thu hồi được.

- Vụ thứ ba: Khoảng hơn 00 giờ 15 phút ngày 26/8/2020, Nguyễn Anh T đi xe đạp (của bà Nguyễn Thị C) quay lại nhà ông Phạm Hồng Y để tiếp tục trộm cắp tài sản. Bằng phương thức cũ, T trộm 01 bộ bàn ghế gỗ trường kỷ (gồm 01 bàn và 02 ghế) để ở phòng khách tầng trệt ngôi nhà. T tiếp tục dùng xe xích lô dựng tại ngã tư đường H - T, TP . để chở bộ T3 về nhà cất giấu rồi đem xe xích lô trả lại vị trí cũ, đạp xe đạp về nhà. Sau đó, T bán bộ trường kỷ này cho anh Đỗ Xuân H4 (sinh năm: 1994, trú: Tổ 36, KP I, P. L, TP .Q) - chủ tiệm đồ cũ “Đỗ Gia ", địa chỉ A H, P. N, TP .Q với giá 5.000.000 đồng. Sau đó, anh H4 bán bộ trường kỷ trên cho một người khách vãng lai (không rõ lai lịch), Cơ quan điều tra không thu hồi được.

- Vụ thứ tư: Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 31/8/2020, T đi xe đạp (của bà Nguyễn Thị C) đến nhà ông Phạm Hồng Y để trộm cắp tiếp 01 bộ trường kỷ trong phòng khách tầng trệt ngôi nhà và 01 ghế thắp nhang trong phòng thờ tầng 3 ngôi nhà rồi dùng xe xích lô như lần trước chở các bàn ghế trên về nhà T. Sau khi chở xong thì T trả xe xích lô về chỗ cũ rồi đi xe đạp về nhà. T đem ghế thắp nhang về nhà sử dụng. Khoảng 10 ngày sau, T bán bộ trường kỷ này cho anh H4 (chủ tiệm đồ cũ “Đỗ Gia ") với giá 4.500.000 đồng. Sau đó, anh H4 bán bộ trường kỷ trên cho một người khách vãng lai (không rõ lai lịch). Cơ quan điều tra đã thu giữ được ghế thắp nhang, không thu hồi được bộ T3 nêu trên.

- Vụ thứ năm: Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 02/3/2022, T đi bộ từ nhà rồi leo qua tường rào, đột nhập vào Khu B, dùng “tua – vít” đã chuẩn bị sẵn từ trước mở ốc, vít tháo khung bảo vệ của cửa sổ phòng ngủ nhà chị Trần Thị H2 (sinh năm: 1984, trú: Tổ 41, KV H, P. Đ, TP .Q) ở Lô A Khu B. Khoảng hơn 00 giờ ngày 03/3/2022, T vào trong nhà chị H2 trộm 01 máy tính bảng hiệu Ipad Mini 6 phiên bản 64GB/Wifi, màu Gold của chị H2 đang để trên máy quạt nước ở phòng bếp tầng trệt ngôi nhà. Sau đó, T bán máy tính bảng trên cho một người liên hệ qua Facebook (không xác định được lai lịch) với giá 400.000 đồng, Cơ quan điều tra không thu hồi được tài sản.

Ngày 18/12/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP . kết luận:

+ 01 tượng ông “Phúc” trong bộ tượng tam đa “P1 - L - T2”, kích thước: 60cm x 20cm x 20cm, chất liệu gỗ Pơ mu, đã qua sử dụng, trị giá 800.000 đồng.

+ 01 bộ bàn ghế salon gỗ, chất liệu gỗ trầm thị (cẩn xà cừ ở mặt bàn, mặt ghế, tựa lưng) gồm: 01 bàn lớn kích thước dài 140cm, rộng 60cm, cao 50cm; 01 bàn nhỏ kích thước dài 60cm, rộng 50cm, cao 50cm; 06 ghế có tựa lưng, tay vịn, kích thước giống nhau, mỗi ghế dài 60cm, rộng 60cm, cao từ chân ghế đến mặt ghế ngồi 40cm, cao từ chân ghế đến đỉnh tựa lưng 90cm, đã qua sử dụng, trị giá 30.000.000 đồng.

+ 01 bộ bàn ghế gỗ (trường kỷ) chất liệu gỗ gõ màu đen, gồm: 01 bàn kích thước dài 140cm, cao 100cm, rộng 60cm; 02 ghế có tựa lưng, tay vịn, kích thước giống nhau, mỗi ghế dài 185cm, rộng 60cm, cao tính từ chân ghế đến mặt ghế ngồi 55cm, cao từ chân ghế đến đỉnh tựa lưng 120cm, đã qua sử dụng, trị giá 7.500.000 đồng.

+ 01 bộ bàn ghế gỗ (trường kỷ) chất liệu gỗ gõ màu đen, gồm: 01 bàn kích thước dài 140cm, cao 100cm, rộng 60cm; 02 ghế có tựa lưng, tay vịn, kích thước giống nhau, mỗi ghế dài 185cm, rộng 60cm, cao tính từ chân ghế đến mặt ghế ngồi 55cm, cao từ chân ghế đến đỉnh tựa lưng 120cm, đã qua sử dụng, trị giá 7.500.000 đồng.

+ 01 ghế gỗ (loại dùng để thắp nhang), chất liệu gỗ tạp, ghế có 04 chân, 02 bậc thang, kích thước từ chân ghế đến bậc thang thứ nhất: 57cm, kích thước từ chân ghế đến bậc thang thứ hai: 81cm, chiều rộng ghế: 34cm, chiều dài ghế:

57cm, kích thước mặt ghế bậc thứ nhất: 31cm x 25cm, kích thước mặt ghế bậc thứ hai: 27cm x 27cm, đã qua sử dụng, trị giá 250.000 đồng.

+ 01 máy tính bảng Ipad Mini 6 phiên bản 64GB/Wifi, màu G (ánh sao), đã qua sử dụng, trị giá 6.000.000 đồng.

* Tổng giá trị tài sản Nguyễn Anh T chiếm đoạt là 61.800.000 đồng.

Tại Cơ quan CSĐT Công an T4, Nguyễn Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp trên của mình.

Cơ quan CSĐT Công an T4:

+ 01 bộ tượng gỗ tam đa “Phúc - L - T2” sơn màu vàng, cam gồm 03 tượng tạc hình các ông P1, L, T2 kích thước mỗi tượng giống nhau: cao 65cm x ngang 23cm, rộng 18cm, đã qua sử dụng và 01 bộ đèn năng lượng mặt trời trong đó có các bộ phận riêng rẽ gồm: 01 bóng đèn led có khung bằng kim loại hình nón bọc bên ngoài, 01 tấm pin năng lượng mặt trời, 01 dây sạc pin nối từ tấm pin tới bóng đèn, 01 remote điều khiển bóng đèn, đã qua sử dụng. Cơ quan điều tra Công an T4 đã trả cho chủ sở hữu chị Trần Hồng P.

+ 01 ghế bằng gỗ dùng để thắp nhang, ghế có 02 bậc thang, ghế có kết cấu 04 chân, kích thước từ chân ghế đến bậc thang thứ hai là 81cm, chiều dài ghế 57cm, chiều rộng ghế 34cm; chiều cao từ chân ghế đến bậc thang thứ nhất (bậc 1) là 57cm. Kích thước mặt ghế bậc 1: dài 31cm, rộng 25cm; kích thước mặt ghế bậc hai: dài 27cm, rộng 27cm, đã qua sử dụng.

Ngày 12/6/2023, Cơ quan CSĐT Công an T4 đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại: 01 ghế bằng gỗ dùng để thắp nhang cho chủ sở hữu ông Phạm Hồng Y; 01 bộ tượng gỗ tam đa “P1 - L - T2” và 01 bộ đèn năng lượng mặt trời.

Về dân sự: Ông Phạm Hồng Y yêu cầu bị cáo Nguyễn Anh T bồi thường dân sự số tiền 45.800.000 đồng; Bị cáo Nguyễn Anh T đã bồi thường số tiền 2.000.000 đồng cho vợ chồng chị Trần Hồng P và anh Đỗ Trọng H1, chị P và anh H1 không yêu cầu bồi thường gì thêm; chị Trần Thị H2 và ông Phạm Anh D, bà Nguyễn Thị M không yêu cầu bồi thường.

- Tại bản cáo trạng số 131/CT-VKSQN ngày 18/7/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo Nguyễn Anh T về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Nguyễn Anh T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố nên Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T từ 03 năm tù đến 04 năm tù.

Bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 589 của Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Nguyễn Anh T phải bồi thường cho vợ chồng ông Phạm Hồng Y bà Bùi Thị Thanh X 45.800.000 đồng.

Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo Nguyễn Anh T thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quy Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Nguyễn Anh T là người có đầy đủ sức khỏe, có trình độ học vấn, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên biết rất rõ tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh, nhưng với ý thức xem thường pháp luật nên bị cáo đã lợi dụng đêm khuya đột nhập vào các nhà dân tại Khu B, TP .Q để trộm cắp tài sản.

Bằng thủ đoạn trên, từ ngày 18/7/2020 đến ngày 31/8/2020, thấy nhà của ông Phạm Hồng Y và bà Bùi Thị Thanh X tại Lô B Khu B, TP.Q không có người ở nhà, bị cáo đã 04 lần lén lút đột nhập vào trong nhà chiếm đoạt 01 tượng hình ông “Phúc” bằng gỗ pơ mu có trị giá 800.000 đồng, 01 bộ bàn ghế salon gỗ trầm thị gồm 01 bàn lớn, 01 bàn nhỏ và 06 ghế có trị giá 30.000.000 đồng, 01 bộ trường kỷ bằng gỗ gõ màu đen gồm 01 bàn và 02 ghế có trị giá 7.500.000 đồng, 01 bộ trường kỷ bằng gỗ gõ màu đen có trị giá 7.500.000 đồng và 01 ghế thắp nhang bằng gỗ tạp có trị giá 250.000 đồng.

Ngày 02/3/2022, bị cáo lén lút đột nhập vào nhà chị Trần Thị H2 và anh Phạm Anh D tại Lô A Khu B chiếm đoạt 01 máy tính bảng hiệu Ipad Mini 6 phiên bản 64GB/Wifi, màu Gold có trị giá 6.000.000 đồng, Ngày 22/3/2022 bị cáo lén lút đột nhập vào nhà chị Trần Hồng P và anh Đỗ Trọng H1 tại Lô H Khu B chiếm đoạt số tiền 2.000.000 đồng, 03 tượng gỗ “Phúc”, “L”, “T2” bằng gỗ cẩm lai đỏ có trị giá 7.000.000 đồng và 01 bộ đèn năng lượng mặt trời hiệu “Jindian” có trị giá 750.000 đồng.

Như vậy, số tài sản bị cáo lén lút chiếm đoạt có tổng trị giá là 61.800.000 đồng nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo Nguyễn Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung hình phạt “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[3] Hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, trị an ở địa phương nên phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội do bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy rằng:

4.1. Bị cáo có nhân thân tốt.

4.2. Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 06 lần, trong đó có 05 lần trị giá tài sản trên 2.000.000 đồng nên đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

4.3. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, đã bồi thường thiệt hại cho bị hại Trần Hồng P và Đỗ Trọng H1, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo một mức án có lý có tình để bị cáo an tâm cải tạo tốt sớm tái hòa nhập với cộng đồng.

[5] Về bồi thường thiệt hại:

Vợ chồng chị Trần Hồng P và anh Đỗ Trọng H1 đã nhận lại một phần tài sản bị chiếm đoạt và được bồi thường thiệt hại 2.000.000 đồng, anh chị không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vợ chồng chị Trần Thị H2 và anh Phạm Anh D không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vợ chồng ông Phạm Hồng Y và bà Bùi Thị Thanh X yêu cầu bị cáo phải bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt theo giá đã định giá với số tiền 45.800.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại nên buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho ông Phạm Hồng Y và bà Bùi Thị Thanh X 45.800.000 đồng.

Bị cáo trộm cắp 03 tượng gỗ có hình “Phúc”, “L”, “T2” cho cửa hàng Đ cũ Hoàn Y1 với giá 2.000.000 đồng. Hiện nay bộ C2 tượng gỗ đã thu hồi trả cho bị hại, bà Nguyễn Thị M và anh Huỳnh Đức H3 không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội: “Trộm cắp tài sản” và có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[7] Về các vấn đề khác: Anh Huỳnh Đức H3, anh Đỗ Xuân H4 có hành vi mua các tài sản từ bị cáo nhưng anh H3, anh H4 không biết đó là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên không phạm tội.

Bị cáo Nguyễn Anh T lấy xe đạp của mẹ ruột là bà Nguyễn Thị C để đi trộm cắp tài sản nhưng bà C không biết nên không phạm tội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt giam thi hành án.

3. Về bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo Nguyễn Anh T phải có nghĩa vụ bồi thường cho vợ chồng ông Phạm Hồng Y và bà Bùi Thị Thanh X 45.800.000 (Bốn mươi lăm triệu tám trăm nghìn) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được quyền yêu cầu bồi thường, hoàn trả có đơn yêu cầu thi hành án mà người có nghĩa vụ phải thi hành không trả hoặc trả không đầy đủ thì còn phải chịu tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

4. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.290.000 đồng (Hai triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

6. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:

6.1. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

6.2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

83
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội trộm cắp tài sản số 156/2023/HS-ST

Số hiệu:156/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Qui Nhơn - Bình Định
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:21/09/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về