TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
BẢN ÁN 156/2023/HS-PT NGÀY 08/12/2023 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Ngày 08 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 156/2023/TLPT-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoài P, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2023/HS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Hoài P, sinh năm 1985, tại Long An. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Dũng T, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1968; vợ Đặng Thị Bích N, sinh năm 1987 (đã chết); con: Không có; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 68/2004/HS-PT ngày 14-6-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An, xử phạt 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong ngày 10-12-2004.
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2007/HS-ST ngày 31-7-2007 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An, xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 06-4-2008.
- Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 169/2009/HS-PT ngày 18-9-2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An, xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 30-9-2010.
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2011/HSST ngày 31-8-2011 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An, xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 26-7- 2013.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01-7-2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, vụ án còn có người bị hại không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, nên không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 01-7-2023, Nguyễn Hoài P đến nhà của bà Nguyễn Thị L1, tại ấp E, xã T, huyện M, tỉnh Long An chơi với Lê Ngọc Q là con của bà L1. Khoảng 09 giờ cùng ngày, P nhìn thấy bà L1 mở ngăn kéo của bàn đặt ở phòng khách để lấy 01 giỏ xách màu đỏ để lấy tiền trả tiền vật liệu xây dựng, rồi cất giỏ vào vị trí cũ nhưng không khóa ngăn kéo. P nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền trong giỏ xách của bà L1 để tiêu xài cá nhân. Trong lúc những người trong nhà không để ý, P đến mở ngăn kéo bàn rồi lấy giỏ xách ném ra bên ngoài hàng rào cặp nhà bà L1. Sau đó, P đi vòng ra hàng rào nhặt giỏ xách, giấu vào trong người, rồi đi bộ ra đường Quốc lộ 62 định trốn thoát, nhưng bị bà L1 phát hiện bắt quả tang P cùng tang vật.
Tang vật thu giữ gồm: 01 giỏ xách màu đỏ, bên trong có 01 ví màu đỏ kích thước 10 x 20cm đựng 5.955.000 đồng; 01 tua vít cán màu vàng dài 5,5cm, trục vít dài 7,5cm; 02 lưỡi cưa sắt, mỗi lưỡi cưa dài 16cm, rộng 1,7cm; 01 điện thoại di động hiệu Masstel, đã qua sử dụng có gắn 02 sim số 0386.986.X và 0938.669.X.
Tại Kết luận định giá tài sản số 11/KL-ĐGTS ngày 06 tháng 9 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M, kết luận: 01 giỏ xách màu đỏ có giá trị là 180.000 đồng và 01 ví màu đỏ kích thước 10 x 20cm có giá trị 30.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2023/HS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An, đã xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoài P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài P 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo tạm giữ, tạm giam từ ngày 01-7-2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10-10-2023 bị cáo Nguyễn Hoài P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Hoài P giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Bị cáo Nguyễn Hoài P kháng cáo đúng thời hạn và đúng quy định Bộ luật Tố tụng hình sự, nên vụ án đủ điều kiện để xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và xét hỏi tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoài P phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là xét xử đúng người, đúng tội, không oan cho bị cáo. Mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới, nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo P.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo mong được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về hòa nhập cộng đồng và làm người công dân có ít cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Bị cáo Nguyễn Hoài P kháng cáo đúng quy định tại các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, nên Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý vụ án giải quyết theo thủ tục phúc thẩm là có căn cứ.
[2] Nội dung vụ việc và yêu cầu kháng cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Hoài P khai nhận: Sáng ngày 01-7-2023, khi đến nhà của bà Nguyễn Thị L1 chơi, thấy bà L1 lấy tiền từ trong giỏ xách để trong ngăn bàn ra trả tiền vật liệu xây dựng và để lại chỗ cũ. Lợi dụng trong lúc mọi người trong nhà của bà L1 lo làm công việc, bị cáo mở ngăn bàn chiếm đoạt một cái giỏ xách bên trong có số tiền mặt là 5.955.000 đồng, sau đó bị phát hiện bắt giữ cùng tang vật. Xét, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà nội dung án sơ thẩm đã nêu. Do đó, cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự xét xử đúng người, đúng tội, không oan cho bị cáo.
Xem xét nhân thân, tính chất, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo để tuyên phạt bị cáo với mức án như trên là thỏa đáng. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng tại cấp phúc thẩm không có cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới, nên không có căn cứ để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa đề nghị. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoài P. Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ các Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Hoài P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoài P. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2023/HS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An, về hình phạt đối với bị cáo.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoài P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài P 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 01-7-2023.
Căn cứ Điều 347 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Hoài P 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 08-12-2023 để đảm bảo thi hành án.
2. Về án phí:
Áp dụng: Các Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Hoài P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Bản án về tội trộm cắp tài sản số 156/2023/HS-PT
| Số hiệu: | 156/2023/HS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Long An |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 08/12/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về