Bản án về tội trộm cắp tài sản số 152/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 152/2024/HS-ST NGÀY 26/06/2024 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

 Ngày 26 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 110/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Minh T, sinh ngày 24 tháng 02 năm 1993, tại: Khánh Hòa; nơi cư trú: Tổ C P, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Minh T1, sinh năm 1970 và bà Mai Thị Kim T2, sinh năm 1972; vợ: Nguyễn Trinh Nữ Thùy Như Ý, sinh năm 1993 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2016.

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Bản án số 162/2023/HSST ngày 31/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Bản án số 83/2023/HSST ngày 06/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tại quyết định tổng hợp hình phạt số 02/2024/QĐ-CA ngày 26/02/2024 của Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa quyết định: Tổng hợp hình phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 83/2023/HSST ngày 06/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa với hình phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 162/2023/HSST ngày 31/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, buộc Lê Minh T phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 26/7/2023.

Bị cáo đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam S – Cục C Bộ C1; có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Ông Lê Thanh T3, sinh năm 1993; trú tại: A M, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1990; trú tại: Tổ A Đ, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

- Bà Bùi Thị T4 – chủ hộ kinh doanh X, địa chỉ: A đường H, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ ngày 15/5/2022, Lê Minh T đi bộ đến quán C2 thuộc thôn P, xã V, thành phố N, trong lúc đang ngồi uống cà phê, T phát hiện chị Nguyễn Thị L dựng xe máy Honda Airblade, biển kiểm soát 79N2-460.11 ở trước quán, khuất tầm nhìn và không có người trông giữ nên Thân nảy sinh ý định lấy trộm xe. Lợi dụng lúc anh Lê Thanh T3, người trông giữ xe của quán cà phê không chú ý, T lén lút đến ngồi lên xe giả vờ nghe điện thoại và dắt trộm xe máy ra khỏi quán cà phê. Khi đến khu vực đường C, xã V, T dùng điện thoại đăng tin bán xe máy không giấy tờ lên trên mạng xã hội Facebook thì có người thanh niên (chưa rõ lai lịch) hỏi mua xe với giá 7.000.000 đồng. T đồng ý và hẹn mua bán xe tại khu vực đường C, P, thành phố N. Số tiền bán xe có được, T tiêu xài hết.

Đến khoảng 10 giờ ngày 15/5/2022, chị Nguyễn Thị L phát hiện mất xe nên đến Công an xã V trình báo và giao nộp camera an ninh của quán cà phê ghi nhận hành vi trộm cắp của Lê Minh T.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 286/KL-HĐĐGTS ngày 06/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: Xe máy Honda Airblade, biển kiểm soát 79N2-460.11 có giá trị 22.420.000đ (hai mươi hai triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng).

Tại bản Cáo trạng số 111/CT-VKSNT ngày 05 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đã truy tố bị cáo Lê Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Minh T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Thanh T3 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị L không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

- Bị cáo Lê Minh T khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa, bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, Kiểm sát viên đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 06 giờ ngày 15/5/2022, tại quán cà phê Xanh thuộc thôn P, xã V, thành phố N, Lê Minh T đã lén lút trộm cắp một xe máy Honda Airblade, biển kiểm soát 79N2-460.11 của chị Nguyễn Thị L do anh Lê Thanh T3 đang trông giữ, quản lý có trị giá 22.420.000đ (hai mươi hai triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng).

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, nhận thức được việc trộm cắp là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội, bị cáo đã ra đầu thú; đã bồi thường cho bị hại 33.000.000đ và được bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.

[5] Về việc tổng hợp hình phạt:

Bị cáo đang chấp hành hình phạt tù của bản án số 83/2023/HSST ngày 06/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa và bản án số 162/2023/HSST ngày 31/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận nên cần tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt của hai bản án trên, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của các bản án theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự Bị hại ông Lê Thanh T3 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L vắng mặt tại phiên tòa nhưng hồ sơ vụ án thể hiện ông T3, bà L không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xem xét.

[7] Đối với thanh niên đã mua xe máy trộm cắp của Lê Minh T hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch, kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố N tiếp tục điều tra làm rõ, khi có đủ căn cứ thì xem xét xử lý sau.

[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 56 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Lê Minh T 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù tại quyết định tổng hợp hình phạt số 02/2024/QĐ-CA ngày 26/02/2024 của Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa (tổng hợp hình phạt của bản án số 83/2023/HSST ngày 06/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa và bản án số 162/2023/HSST ngày 31/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận), buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của các bản án là 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26 tháng 7 năm 2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Thanh T3, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị L không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Bị cáo Lê Minh T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

101
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội trộm cắp tài sản số 152/2024/HS-ST

Số hiệu:152/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Nha Trang - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:26/06/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về