Bản án về tội trộm cắp tài sản số 15/2024/HS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 15/2024/HS-ST NGÀY 30/01/2024 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 30 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 188/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị T, sinh năm 1986 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn D, xã B, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K (đã chết) và bà Vũ Thị T1; có chồng là Lê Quốc T2; có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 25/10/2023; có mặt.

Bị hại: Công ty TNHH A, địa chỉ trụ sở: Số C T, phường S, quận T, thành phố Hồ Chí Minh; đại diện theo ủy quyền của bị hại: Ông Vũ Hồng Q - trợ lý giám sát an ninh của Trung tâm thương mại A1, Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 20/8/2023, Công an phường K nhận được đơn trình báo của đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH A, địa chỉ trụ sở chính: Số C đường T, phường S, quận T, thành phố Hồ Chí Minh về việc 02 nữ giới là Nguyễn Thị T và Lê Huyền T3, sinh năm 2005, nơi cư trú: thôn D, B, A, Hải Phòng có hành vi trộm cắp tài sản tại gian hàng tầng 1 và tầng 2 Trung tâm bách hóa tổng hợp và siêu thị A2, Hải Phòng, Việt Nam (viết tắt là siêu thị A2), địa chỉ: Đường H - cầu R, phường K, quận L, Hải Phòng. Cồng an phường đã tiếp nhận T, T3 cùng toàn bộ vật chứng và lập biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang.

Quá trình điều tra, xác định được như sau: Khoảng 12 giờ ngày 20/8/2023, Nguyễn Thị T cùng con gái là Lê Huyền T3, sinh năm 2005, nơi cư trú: Thôn D, B, A, Hải Phòng đến siêu thị A2 để mua sắm. Đến nơi, T và T3 vào quầy bánh mỳ và bim bim tại tầng 1 mua đồ ăn, thanh toán tại quầy thu ngân và mang ra bàn gần đó ngồi ăn. Sau khi ăn xong, T quan sát xung quanh thấy các gian hàng trong siêu thị không có người trông coi, việc quản lý và thanh toán lỏng lẻo nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Tuyết giữ lại túi nilon màu trắng của siêu thị vừa đựng bim bim trước đó và bảo T3 lấy 01 túi màu xanh ở gần quầy thu ngân để vào xe chở hàng. Sau đó, T và T3 đẩy xe chở hàng đi đến các gian hàng tại tầng 1 của siêu thị để lấy các sản phẩm gồm: 05 hộp kẹo Gum các loại, 01 vỉ bàn chải đánh răng, 03 gói đũa gỗ, 08 hộp kẹo The Playmore, 02 lọ đựng tăm, 01 ly nước có nắp 330 ml, 01 hộp khăn ướt Mamamy 30 tờ, 01 gói xúc xích, 01 bánh xà bông Harmony, 05 chai sữa tắm gội các loại, 01 chai dầu gội dược liệu sạch gàu Nguyên Xuân, 01 khăn tắm màu hồng, 01 túi nước xả vải Downy 04 lít, 01 túi nước giặt Ariel cửa trước 3,7 kg, 03 bình giữ nhiệt mở nắp bằng tay 500 ml các loại. Trong lúc T3 đi xem đồ, T đẩy xe hàng đến chỗ vắng người cho các sản phẩm vừa lấy được vào trong 01 túi màu xanh để trong xe chở hàng. Sau đó, T và T3 đi lên tầng 2 tiếp tục lấy các sản phẩm gồm: 04 móc khóa các loại, 01 ba lô, 07 dây buộc tóc các loại, 01 đôi sandal Sunday, 01 ví gấp khóa, 01 bàn chải đánh răng trẻ em, 01 hộp sáp nặn 12 màu Neon, 03 dây buộc tóc, 01 đôi dép, 01 set kẹp tóc, 01 đồ chơi Tagger, 01 gấu bông trà sữa, 01 gấu bông Pokemon, 04 chiếc áo các loại, 01 quần váy kaki, 01 áo thun Oversize, 01 dây lưng nam màu đen, 01 đôi giày Bitis. Trong khi T3 đi vệ sinh thì T tìm chỗ vắng người rồi bỏ các sản phẩm vừa lấy được vào 01 túi màu xanh và 01 túi nilon màu trắng rồi buộc đầu túi lại như hàng đã được thanh toán. Một số sản phẩm vẫn để ở giỏ xe hàng. Sau đó, T và T3 đẩy xe hàng đi qua cửa số 10, ra ngoài siêu thị khoảng 30 mét thì bị lực lượng an ninh siêu thị kiểm tra, yêu cầu xuất trình hóa đơn. Do không xuất trình được hóa đơn nên lực lượng an ninh đưa T và T3 cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở Công an phường K tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang.

Tại Kết luận định giá tài sản số 93/KL-HĐĐGTS ngày 11/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận L kết luận: Giá trị của các tài sản cần định giá là 8.760.700 đồng.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thị T khai nhận như nội dung nêu trên. Ngoài ra, T còn khai nhận T không cho T3 biết, không bàn bạc với T3 việc T trộm cắp tài sản của siêu thị. Do T3 còn đi học, không có tiền nên khi đi siêu thị T4 có thể chọn sản phẩm muốn lấy và phải thông báo cho T, được T đồng ý thì T3 mới để vào xe hàng đề T thanh toán.

Lê Huyền T3 khai nhận phù hợp với lời khai của Nguyễn Thị Tuyết. Ngoài ra, còn khai nhận: Khi T bảo T3 đi về thì T3 đi về, T3 không hỏi T về việc đã thanh toán tiền hàng hay chưa. Chỉ đến khi bị lực lượng an ninh siêu thị kiểm tra thì T3 mới biết việc T chưa thanh toán tiền hàng cho siêu thị.

Về trách nhiệm dân sự: Co quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu hợp pháp là Công ty TNHH A. Đại diện theo ủy quyền đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.

Bản Cáo trạng số 16/CT-VKSLC ngày 28/12/2023, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị T và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Thị T từ 9 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, đề nghị ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật về tội “Trộm cắp tài sản” và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện là đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, biên bản bắt người phạm tội quả tang, báo cáo bắt giữ của lực lượng công an, kết luận giám định, vật chứng thu giữ, tài liệu khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 20/8/2023, bị cáo Nguyễn Thị T đã có hành vi lợi dụng sơ hở về việc thanh toán và quản lý trong các gian hàng của siêu thị A2 , lén lút chiếm đoạt tài sản là một số sản phẩm tại gian hàng tầng 1 và tầng 2 siêu thị A2, Hải Phòng, giá trị của các tài sản theo kết luận của Hội đồng định giá là 8.760.700 đ (tám triệu bảy trăm sáu mươi nghìn bảy trăm đồng). Hành vi của bị cáo đã thỏa mãn cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Nguyễn Thị T về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trị an xã hội nên cần xét xử nghiêm.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên, vì vậy không cần thiết phải bắt cách ly bị cáo khỏi xã hội mà có thể áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội như đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo không có công việc thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự:

[8] Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã trả lại các tài sản bị chiếm đoạt cho Công ty TNHH A. Đại diện theo ủy quyền đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xét.

- Về các vấn đề khác:

[9] Cần hủy bỏ biện pháp ngăn chặn bị cáo đang thực hiện theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Về án phí:

[10] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

[11] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Thị T 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Thị T cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện A, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 2 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

147
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội trộm cắp tài sản số 15/2024/HS-ST

Số hiệu:15/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Lê Chân - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:30/01/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về