TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TÌNH BÌNH THUẬN
BẢN ÁN 146/2023/HS-ST NGÀY 14/12/2023 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Ngày 14 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 134/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023, đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn Tấn H, (Tên gọi khác: N), Sinh năm: 1997; Nơi sinh: Lâm Đồng; Nơi đăng ký thường trú: Không đăng ký thường trú; Chỗ ở hiện nay: sống lang thang tại thị xã L; Trình độ học vấn: 2/12; Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Con ông: Nguyễn V, sinh năm: 1974 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1980; Vợ, con: Không có; Tiền án, Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 23/10/2013, bị chủ tịch UBND huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G về hành vi “Trộm cắp tài sản” với thời hạn 24 tháng (Quyết định số 2218/QĐ-UBND). Ngày 29/01/2014, đã chấp hành xong.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/7/2023, bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã L. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
2/ Mai Anh N1, Sinh năm: 2001; Nơi sinh: Hà Tĩnh; Nơi đăng ký thường trú: Thôn C Đ, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Chỗ ở hiện nay: khu phố E, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Tao động biển; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Công giáo; Con ông: Mai Đức M, sinh năm: 1969 và bà Mai Thị T1, sinh năm: 1961; Vợ, con: Không có; Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 13/10/2021, bị Tòa án nhân dân thị xã La Gi xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 76/2021/HS-ST). Ngày 12/10/2022, chấp hành xong án phạt tù theo Giấy chứng nhận số 641/GCN của Giám thị trại giam X.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/9/2023, bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã L. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa) * Bị hại:
1) Anh Phan Quốc V1, sinh năm: 1980. Địa chỉ: Khu phố G, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Vắng mặt) 2) Anh Nguyễn Q, sinh năm: 1991. Địa chỉ: Thôn C, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ đến vụ án: Nguyễn Quốc B, sinh năm: 1998. Nơi cư trú: Khu phố C, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong tháng 6 và tháng 7/2023, Nguyễn Tấn H, Mai Anh N1 lợi dụng sơ hở trong việc quản lý của chủ sở hữu nên đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào một buổi tối tháng 6/2023 (các bị cáo, bị hại không nhớ ngày), Nguyễn Tấn H và Mai Anh N1 đi ngang qua nhà anh Phan Quốc V1 tại khu phố G, phường T, thị xã L thì thấy nhà không có cổng rào nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Thực hiện ý định này, H và N1 đi ra sau nhà để quan sát thì thấy anh V1 đang ngủ trong nhà, trước hiên có dựng 01 xe mô tô hiệu Jupiter màu vàng đen, BKS: 86K8-52xx, cắm sẵn chìa khóa trên xe. Lúc này, H và N1 bàn bạc, thống nhất N1 sẽ vào dắt trộm xe, còn H đi ra đường phía trước nhà để cảnh giới. Sau đó, N1 lén lút đi vào dắt trộm xe ra ngoài đường thì N1 nổ máy, điều khiển xe chở H chạy đi. Khi đi đến một đoạn đường hẻm vắng người (không nhớ rõ vị trí), N1 và H giật biển số xe vứt đi để tránh bị phát hiện. Sau đó, N1 và H đem xe đến nhà bà Ngô Thị H1 tại thôn T, xã T, thị xã L để bán nhưng bà H1 không mua nên cả hai cất giấu xe tại 01 căn nhà hoang tại xã T, thị xã L. Đến sáng ngày hôm sau, N1 cùng với H mang xe đến xã T, L gặp Nguyễn Quốc B. Lúc này, H ở ngoài, còn N1 đi vào nói Bảo xe bị mất giấy tờ, nhờ B bán dùm thì B đồng ý nên N1 giao xe cho B. Do chờ lâu không thấy B về nên H và N1 đi về lại căn nhà hoang ở phường T, thị xã L rồi xảy ra cãi nhau nên N1 bỏ đi khỏi địa phương. Nguyễn Quốc B sau khi tìm nơi bán xe không được thì quay về trả xe cho N1 nhưng do không thấy và cũng không biết N1 và H ở đâu nên B mang xe về lại nơi ở của mình để chờ N tới lấy.
Ngày 02/9/2023, Cơ quan Công an đã thu giữ từ Nguyễn Quốc B 01 xe mô tô hiệu Jupiter màu vàng đen là tang vật mà H và N1 đã trộm cắp của anh Phan Quốc V1.
Tại Kết luận định giá tài sản số 61/KL-ĐGTS ngày 06/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã L kết luận: 01 xe máy hiệu Yamaha Jupiter loại nữ, màu vàng đen, dung tích 110, số máy 5VT2-72898, số khung CJ5VT204Y072898, BKS: 86K8-52xx, đăng ký lần đầu ngày 23/10/2004, đã qua sử dụng, còn hoạt động; Có giá trị là 6.000.000 đồng.
Vụ thứ hai: Vào ngày 13/7/2023, Nguyễn Tấn H và một đối tượng tên T2 (không rồ nhân thân lai lịch) đến Công viên thị xã L thì quan sát thấy anh Nguyễn Quốc d xe mô tô hiệu Wave RSX màu đen, BKS: 71H4-92xx tại C thị xã L thuộc khu phố F, phường T, thị xã L rồi đi vào Bệnh viện Đa khoa khu vực thị xã L nên H và T2 bàn với nhau trộm cắp xe mô tô trên. Thực hiện ý định này, T2 đứng cảnh giới bên phía Cổng bệnh viện, còn H lén lút đi đến dắt trộm xe mô tô ra hướng đường N. Sau đó, H tiếp tục dắt xe đến tiệm S1 nằm trên đường N nhờ nối lại dây điện ổ khóa. Sau khi nổ được máy xe, H điều khiển xe mô tô đi đến nhà bà Ngô Thị H1 bán nhưng bà H1 không mua. Lúc này, Công an thị xã L đến làm việc với H và thu giữ chiếc xe mô tô BKS: 71H4-92xx.
Tại Kết luận định giá tài sản số 39/KL-ĐGTS ngày 18/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã L kết luận: 01 xe máy hiệu Honda loại Wave (Wave S), dung tích 109, số máy 3E-0507891, số khung 79Y-602934, BKS: 71H4-92xx, đăng ký lần đầu ngày 21/5/2009, đã qua sử dụng, còn hoạt động; Có giá trị là 5.000.000 đồng.
Vật chứng vụ án và dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại cho Phan Quốc V1, Nguyễn Q tài sản bị chiếm đoạt. Anh V1, anh Q không yêu cầu các bị cáo bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 139/CT-VKSLG-HS ngày 07/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố bị cáo Nguyễn Tấn H và Mai Anh N1 về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn H và Mai Anh N1 phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn H, mức án từ 18 đến 24 tháng tù.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Phạt: Bị cáo Mai Anh N1, mức án từ 18 đến 24 tháng tù.
- Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Tấn H và Mai Anh N1 khai nhận nhu đã khai tại cơ quan điều tra và thừa nhận cáo trạng của VKSND thị xã La Gi truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.
- Các bị cáo không có ý kiến cũng như tranh luận gì đối với quan điểm của đại diện VKSND thị xã La Gi.
- Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy được hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Xét thấy, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập, phản ánh trong hồ sơ vụ án và thông qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa, có đủ căn cứ để kết luận: Trong tháng 6 và tháng 7/2023, Nguyễn Tấn H, Mai Anh N1 lợi dụng sơ hở trong việc quản lý của chủ sở hữu tài sản nên đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào một buổi tối tháng 6/2023 (Bị cáo, bị hại không nhớ rõ ngày), tại khu phố G, phường T, thị xã L, Nguyễn Tấn H và Mai Anh N1 đã lén lút vào trước hiên nhà anh Phan Quốc V1 lấy trộm 01 xe mô tô hiệu Jupiter màu vàng đen, BKS: 86K8-52xx có giá trị là 6.000.000 đồng.
Vụ thứ hai: Vào ngày 13/7/2023, tại c thị xã L thuộc khu phố F, phường T, thị xã L, Nguyễn Tấn H và một đối tượng bị cáo H khai tên T2 (không rồ nhân thân lai lịch) đã lén lút lấy trộm 01 xe mô tô hiệu Wave RSX màu đen, BKS: 71H4-92xx có giá trị là 5.000.000 đồng của anh Nguyễn Q.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Tấn H, Mai Anh N1 là đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Trộm cắp tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, để nhận thức rõ việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị nghiêm cấm, nhưng với bản tính tham lam, chây lười lao động, các bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại như đã nêu trên. Hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự xem thường pháp luật, xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý mất an toàn trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra. Xét thấy, cần tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe giáo dục các bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, không tổ chức và phân công vai trò cụ thể của từng bị cáo. Bị cáo Nguyễn Tấn H thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, một vụ trộm cắp cùng với Mai Anh N1 vào tháng 6/2023, một vụ trộm cắp tài sản vào ngày 13/7/2023, H khai nhận thực hiện cùng với đối tượng tên T2 nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch đối tượng này. Do đó, Nguyễn Tấn H phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án này.
Đối tượng tên T2 mà bị cáo Nguyễn Tấn H khai nhận, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch, nên Cơ quan CSĐT sẽ tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau nên HĐXX không xét.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Tấn H 02 lần trộm cắp tài sản mà mỗi lần đều có giá trị trên 2.000.000 đồng, đều cấu thành tội trộm cắp tài sản độc lập, nên bị cáo H phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Mai Anh N1 đã bị kết án (Bản án số 76/2021/HS-ST ngày 13/10/2021 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi) chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, nên bị cáo N1 phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn; Hoàn cảnh gia đình khó khăn; Tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi và trả lại cho bị hại; Do đó, khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo Nguyễn Tấn H, Mai Anh N1 được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra đã giải quyết xong, nên Hội đồng xét xử không xét.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Phan Quốc V1, Nguyễn Q đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm, nên HĐXX không xem xét.
[8] Đối với Nguyễn Quốc B không biết xe mô tô Mai Anh N1 nhờ đi bán là do phạm tội mà có nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã L không xử lý là phù hợp.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn H và Mai Anh N1 phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
[2] Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn H 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 14/7/2023.
[3] Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Mai Anh N1 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 02/9/2023.
[4] Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo Nguyễn Tấn H, Mai Anh N1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đối với bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Bản án về tội trộm cắp tài sản số 146/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 146/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thị Xã La Gi - Bình Thuận |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 14/12/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về