Bản án về tội trộm cắp tài sản số 142/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 142/2024/HS-ST NGÀY 15/08/2024 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 149/2024/HSST ngày 19 tháng 7 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 156/2024/HSST-QĐ ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Vũ Mạnh H, Sinh năm: 1986;

HKTT: Khu 3, phường TC, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con Vũ Nguyên V, sinh năm 1944 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1952; Gia đình có 5 anh em, bị can là con thứ năm; Vợ: Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1984 (đã chết); Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2011.

Tiền án: Tại Bản án số 192/2021/HSST ngày 24/9/2021 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 26/01/2023.

Tiền sự: Không. Nhân thân:

+ Ngày 16/4/2006, Công an thành phố Bắc Ninh xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi “Không tố giác tội phạm”.

+ Ngày 2/8/2007, Công an thành phố Bắc Ninh xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

+ Ngày 9/8/2007, Công an thành phố Bắc Ninh xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi “Đánh bạc”.

+ Tại Bản án số 46/2012/HSST ngày 14/3/2012 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử 02 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 2, Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại bản án phúc thẩm số 164/2012/HSPT ngày 10/9/2012 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang sửa một phần bản án sơ thẩm số 46/2012/HSST 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 2, Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999.

+ Tại Bản án số 263/2012/HSST ngày 26/9/2012 của Toà án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội 7 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Tổng hợp hình phạt 36 tháng tù của bản án số 164/2012/HSPT ngày 10/9/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang buộc chấp hành hình phạt chung cho cả 2 bản án là 43 tháng tù. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 29/4/2014.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/3/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh (Có mặt tại phiên tòa).

2. Vũ Mạnh H2, Sinh năm: 1983;

HKTT: Khu 3, phường TC, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Nguyên V, sinh năm 1944 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1952; Gia đình có có 5 anh em, bị can là con thứ tư; Vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1982 (đã chết); Con: Có 01 con, sinh năm 2003.

Tiền án:

+ Tại Bản án số 91/2006/HSST ngày 26/5/2006 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử 15 tháng tù nH cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Đã chấp hành xong hình phạt tù nH chưa thực hiện trách nhiệm bồi thường dân sự.

+ Tại Bản án số 47/2007/HSST ngày 28/3/2007 của Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Buộc H2 chấp hành hình phạt 15 tháng tù tại bản án số 91/2006/HSST ngày 26/5/2006, tổng hợp hình phạt 23 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù tháng 10/2008.

+ Tại Bản án số 46/2012/HSST ngày 14/3/2012 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử 03 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Chấp hành xong hình phạt tù ra trại tháng 4/2014. Chưa hình phạt bổ sung, số tiền truy thu sung quỹ Nhà nước, bồi thường dân sự, án phí DSST.

+ Tại Bản án số 100/HSST ngày 23/2/2017 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày tháng 9/2018 nH chưa thực hiện trách nhiệm bồi thường dân sự, tiền truy thu sung quỹ Nhà nước.

+ Tại Bản án số 257/2019/HSST ngày 28/10/2019 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/10/2021.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/5/2024 đến nay. Hiện có mặt tại địa phương (Có mặt tại phiên toà).

* Bị hại: Anh Nguyễn Doãn Quyết, sinh năm 1974;

HKTT: Thôn Ân Phú, xã Phú Lâm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (Xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Mạnh H và Vũ Mạnh H2, cùng hộ khẩu thường trú (HKTT) tại khu 3, phường TC, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (là hai anh em ruột); Nguyễn Quang D, sinh năm 1968, HKTT tại khu 7, phường TC, thành phố Bắc Ninh đều là các đối tượng không có việc làm, để có tiền chi tiêu cá nhân đã cùng rủ nhau thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cụ thể:

Khoảng 20 giờ ngày 21 tháng 6 năm 2023, trong quá trình uống nước tại nhà của H; D, H và H2 cùng rủ nhau đi trộm cắp tài sản để lấy tiền chi tiêu cá nhân rồi hẹn đến hơn 01 giờ sáng ngày 22/6/2023 có mặt tại nhà H để đi trộm cắp. Sau đó, H2 và D đi về nhà còn H đi chơi. Đến khoảng 0 giờ ngày 22/6/2023, anh Vũ Văn C, sinh năm 1989, HKTT tại khu PV, phường Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh điều khiển chiếc xe ô tô nhãn hiệu Kia Morning màu vàng, BKS: 29A – xxxxx đi ăn thì gặp H đang đứng tại lề đường nên dừng xe, nói chuyện, H rủ C về nhà chơi. Đến khoảng 1 giờ sáng cùng ngày, như đã hẹn, D, H2 đi đến nhà H. Lúc này, H có nói “Xuống Bệnh viện Yên Phong, sau đó vòng về Tiên Du xem có gì ăn không”, D và H2 hiểu ý H rủ đến Yên Phong và Tiên Du để trộm cắp tài sản. Sau đó, H nhờ anh C chở đến Trung tâm y tế huyện Yên Phong có việc thì anh C đồng ý. Khi đến gần cổng Trung tâm y tế huyện Yên Phong, H nói C đỗ xe ở bên ngoài (toàn bộ quá trình D, H, H2 không nói cho anh C biết việc đi trộm cắp tài sản). Lúc này, H cùng H2 và D xuống xe, khi đi đến gần cổng phát hiện thấy lực Lợng bảo vệ nên cả nhóm không vào và quay ra xe, H tiếp tục nhờ C chở đến Trung tâm y tế huyện Tiên Du. Khi đến nơi, H bảo anh C đỗ xe ở ngoài đợi, còn H, H2 và D đi vào Trung tâm y tế Tiên Du theo lối cổng chính, đến tòa nhà A2, Khoa sản, H và D nói với H2 ở phía dưới có gì thì thông báo, H2 hiểu ý của D và H nói H2 ở dưới cảnh giới còn H, D đi lên các tầng để tìm kiếm tài sản sơ hở trong quản lý thì trộm cắp. Khoảng 2 giờ cùng ngày, khi đi đến phòng 408 tầng 4 khoa Y học cổ truyền, kiểm tra thấy phòng không khóa cửa trong, H đi vào phòng, còn D đi đến sát vị trí cầu thang để cảnh giới. Tại phòng 408, H thấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng (là điện thoại của anh Nguyễn Doãn Quyết, sinh năm 1974, HKTT tại thôn Ân Phú, xã Phú Lâm, huyện Tiên Du) để ở đầu giường nằm bệnh nhân thì nhanh chóng cầm chiếc điện thoại bằng tay pH2 rồi đi ra khỏi phòng. Sau đó, H đút chiếc điện thoại di động vừa trộm cắp được vào túi quần bên pH2 rồi cả hai đi ra khu vực cầu thang bộ. Tại đây, H đưa cho D chiếc điện thoại vừa trộm cắp được rồi bảo D mang xuống dưới để đưa cho H2 cất giấu. D cầm điện thoại cất vào túi quần đang mặc rồi đi xuống sảnh tầng 01. Khi D vừa xuống đến khu vực tầng 1 thì cùng lúc này, lực Lợng bảo vệ của Trung tâm y tế huyện Tiên Du do anh Nguyễn Đức L, sinh năm 1977, HKTT tại thôn Núi Móng, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đi tuần tra phát hiện. Do lo sợ nên D nhanh chóng đi đến vị trí cột trước sảnh tầng 01 và cất giấu chiếc điện thoại mà H vừa trộm cắp được ở chân cột. Tổ bảo vệ kiểm tra, phát hiện và thu giữ chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng mà D cất giấu. H sau khi phát hiện thông tin H2 và D bị Tổ bảo vệ kiểm tra đã bỏ trốn. Quá trình bỏ trốn, H bỏ trốn đến ngày 25/3/2024 thì đến nhà anh Vũ Văn S, sinh năm 1983, HKTT tại thôn LG, xã Tân Trào, huyện Thanh Miện, tỉnh H2 Dương để ở nhờ đến ngày 27/3/2024, H bị bắt truy nã.

Ngày 22/6/2023, anh Quyết nộp đơn trình báo với Cơ quan điều tra nội dung sự việc.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 52 ngày 31 tháng 6 năm 2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Tiên Du kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, loại 64GB. Tài sản đã qua sử dụng. Có giá trị còn lại là 8.000.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra Vũ Mạnh H và Vũ Mạnh H2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 86/CT-VKSTD ngày 17/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo H theo quy định tại khoản 1, Điều 173 BLHS và bị cáo H2 theo điểm g, khoản 2, Điều 173 Bộ luật hình sự.

Quá trình xét hỏi tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Vũ Mạnh H và Vũ Mạnh H2 phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1, Điều 173; điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 58 BLHS.

Xử phạt: Vũ Mạnh H từ 12 tháng tù đến 16 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/3/2024.

Căn cứ điểm g, khoản 2, Điều 173; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 BLHS.

Xử phạt: Vũ Mạnh H2 từ 26 tháng tù đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

* Về trách nhiệm dân sự: Không yêu cầu giải quyết. Về xử lý vật chứng: Không.

Trong phần tranh luận:

Các bị cáo nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt;

Các bị cáo nhận thấy bị Toà án nhân dân huyện Tiên Du xét xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Tiên Du, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với biên bản xác định hiện trường, biên bản dẫn giải, phù hợp với thời gian, địa điểm, lời khai những người liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Khoảng 01 giờ ngày 22 tháng 6 năm 2023, tại nhà của H tại khu 3, phường TC, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Quang D, Vũ Mạnh H, Vũ Mạnh H2 cùng rủ nhau đi trộm cắp tài sản để lấy tiền chi tiêu cá nhân.

Khoảng 02 giờ cùng ngày, tại Trung tâm y tế huyện Tiên Du, H2 có hành vi cảnh giới; D và H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 có giá trị 8.000.000 đồng của anh Nguyễn Doãn Quyết mục đích để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân nH đã bị kiểm tra phát hiện. Quá trình kiểm tra đối với D, H2 thì H bỏ trốn sau đó bị bắt truy nã. Đối với Nguyễn Quang D đã bị Toà án nhân dân huyện Tiên Du xét xử tại bản án số 12 ngày 12/11/2023 .

Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo H bị truy tố theo khoản 1, Điều 173 BLHS và bị cáo H2 đã nhiều lần bị xét xử, tại Bản án số 257/2019/HSST ngày 28/10/2019 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/10/2021; đã tính bị cáo là tái phạm nguy hiểm chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp là tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung theo điểm g, khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp công dân, được pháp luật bảo vệ, gây mất gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng, bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần pH2 đưa các bị cáo ra xét xử kịp thời và có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3] Xét vai trò, vị trí của các bị cáo trong vụ án thấy: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm, tuy nhiên chỉ là đồng phạm giản đơn, các bị cáo không câu kết chặt chẽ, cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, không có sự phân công, phân nhiệm vụ thực sự rõ ràng, các bị cáo H là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp, lấy được tài sản thì chuyển cho D, còn H2 đứng ở tầng 1 chờ D đưa tài sản cất giấu, trong vụ án này vai trò của H cao hơn bị cáo H2.

[4] Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thì thấy: Các bị cáo đều là người có nhân thân xấu từng bị Tòa án xét xử nhiều lần cùng về tội “Trộm cắp tài sản”. Tại Bản án số 192/2021/HSST ngày 24/9/2021 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt bị cáo Vũ Mạnh H 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo chấp hành xong bản án ngày 26/01/2023, bản án trên chưa được xoá án tích. Bị cáo lại tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này bị cáo pH2 chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình là tái phạm quy định tại điểm h, khoản 1, điều 52 Bộ luật hình sự.

Bị cáo H2 tái phạm nguy hiểm được xác định là tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm g, khoản 2, điều 173 BLHS nên không coi là tình tiết tăng nặng, bị cáo H2 cũng pH2 chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào quy định tại Điều 52 BLHS.

Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay các bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo H2 bị bệnh phổi, sức khoẻ yếu nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định điểm s, khoản 1, Điều 51 BLHS.

Do vậy, khi Lợng hình Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước.

Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo và xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du là phù hợp, Hội đồng xét xử xét thấy:

Cần thiết pH2 xử các bị cáo một mức án tù, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, mới có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung, giúp bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội, biết tôn trọng pháp luật.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản các bị cáo trộm cắp đã được thu hồi trả cho bị hại anh Nguyễn Doãn Quyết, đến nay bị hại không có yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng của vụ án:

- Ngày 22/6/2023, anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1977, HKTT tại thôn Núi Móng, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (đại diện tổ bảo vệ Trung tâm y tế huyện Tiên Du) đã giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, bản 64GB. Ngày 20/7/2023, Cơ quan điều tra đã trả cho anh Quyết là chủ sở hữu là đúng quy định pháp luật.

- Ngày 22/6/2023, anh Vũ Văn C đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 chiếc ô tô 4 chỗ nhãn hiệu Kia Morning, màu vàng, BKS 29A-xxxxx cùng giấy tờ xe. Quá trình điều tra xác định anh C không biết việc H nhờ chở đi để trộm cắp tài sản nên ngày 20/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du đã trả lại chiếc xe trên cùng giấy tờ xe cho anh C là đúng quy định pháp luật.

[7] Liên quan trong vụ án này:

Đối với anh Vũ Văn C là người chở H, H2, D đến Trung tâm y tế huyện Tiên Du ngày 22/6/2023. Quá trình điều tra xác định anh C không biết việc D, H2, H đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du giáo dục, nhắc nhở là phù hợp.

Đối với anh Vũ Văn S là người cho H ở nhờ từ ngày 25/3/2024 đến khi bị bắt truy nã: Quá trình điều tra xác định anh S không biết việc H đã bị khởi tố, đang bị truy nã do vậy Cơ quan điều tra giáo dục nhắc nhở đối với anh S là phù hợp.

Đối với Nguyễn Quang D: Đã bị Toà án xét xử và hiện đang đi chấp hành án.

[8] Về án phí: Các bị cáo pH2 chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Vũ Mạnh H và Vũ Mạnh H2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1, Điều 173; điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt: Vũ Mạnh H 14 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/3/2024. Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Quyết định tạm giam bị cáo Vũ Mạnh H 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

thẩm.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

43
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội trộm cắp tài sản số 142/2024/HS-ST

Số hiệu:142/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tiên Du - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:15/08/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về