Bản án về tội trộm cắp tài sản số 14/2023/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 14/2023/HS-ST NGÀY 17/02/2023 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 17 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Vân Thủy, Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2023, Thông báo thay đổi thời gian xét xử số: 05/TB-TA ngày 15 tháng 02 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Lý Văn G, sinh ngày 27 tháng 12 năm 1985 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Sán Chỉ; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn S, sinh năm 1962 và bà Lâm Thị C, sinh năm 1961; vợ Bùi Thị P, sinh năm 1983 và 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án: Ngày 28-12-2016 bị Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử về tội Làm giả con dấu, xử phạt 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm kể từ ngày tuyên án, đã chấp hành xong bản án ngày 28-12-2021, chưa được xóa án tích; tiền sự: Không có; bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 20 tháng 11 năm 2022 đến nay; có mặt.

2. Hoàng Văn T, sinh ngày 18 tháng 12 năm 1989 tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Q, xã H, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn L, sinh năm 1951và bà Thân Thị T1, sinh năm: 1954 (đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 21 tháng 11 năm 2022 đến nay; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn T: Ông Lâm Xuân Tặng - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

- Bị hại:

1. Ông Chu Văn H, sinh năm 1984; trú tại: Thôn B, xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

2. Bà Hoàng Thị L1, sinh năm 1983; trú tại: Thôn B, xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Lưu Văn L2, sinh năm 1994; trú tại: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Nông Văn S1, sinh năm 1973; trú tại: Thôn N, xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 20-11-2022, Lý Văn G và Hoàng Văn T đi từ nhà của Lý Văn G ở thôn N, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang về nhà của Hoàng Văn T tại thôn Q, xã H, huyện T, tỉnh Lạng Sơn chơi. Trước khi đi, Lý Văn G có lấy 01 thanh kim loại hình chữ T (dụng cụ "Vam" phá khóa xe mô tô tự chế) đưa cho Hoàng Văn T, Hoàng Văn T cầm lấy "Vam" để ở giá để đồ phía trên cụm động cơ máy của xe mô tô biển kiểm soát 98F1-xxxxx mục đích thấy xe mô tô nào sơ hở thì trộm để bán lấy tiền. Khi đi đến thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, Lý Văn G và Hoàng Văn T không đi về nhà Hoàng Văn T nữa mà quay lại Bắc Giang theo tuyến Quốc lộ 1A. Khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, khi đi đến Km 27+600 Quốc lộ 1A, thuộc địa phận thôn N, xã V, huyện C thì phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 12K1-xxxxx của Hoàng Thị L1 đang để ở lề đất bên phải đường theo hướng Lạng Sơn-Hà Nội nên Lý Văn G và Hoàng Văn T đã nảy sinh ý định lấy trộm xe mô tô trên. Để thực hiện ý định trộm cắp, Hoàng Văn T điều khiển xe mô tô dừng lại phía trước đầu xe mô tô biển kiểm soát 12K1-xxxxx, Lý Văn G xuống xe và cầm lấy "Vam" đi bộ đến vị trí để xe mô tô biển kiểm soát 12K1-xxxxx, Lý Văn G cắm đầu bẹt của "Vam" vào trong ổ khóa xe và phá ổ khóa rồi ngồi lên xe nổ máy, điều khiển xe đi theo hướng Lạng Sơn-Hà Nội, Hoàng Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98F1-xxxxx đi ngay phía sau Lý Văn G. Lúc này, bà Hoàng Thị L1 và người dân xung quanh khu vực đó nhìn thấy Lý Văn G trộm xe đã hô hoán, đồng thời điện báo cho ông Chu Văn H (chồng bà Hoàng Thị L1) để chặn đường bắt đối tượng trộm cắp và trình báo cơ quan Công an. Khi Lý Văn G và Hoàng Văn T điều khiển xe đi đến Km 33+900 Quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn B, xã V, huyện C, thấy nhóm người đang chặn đường thì Lý Văn G đã bỏ lại xe mô tô biển kiểm soát 12K1-xxxxx ở cạnh đường rồi ngồi lên xe mô tô biển kiểm soát 98F1-xxxxx do Hoàng Văn T điều khiển bỏ chạy về hướng Hà Nội-Lạng Sơn, khi đi đến Km 32+100 Quốc lộ 1A thấy bị vây bắt nên Lý Văn G và Hoàng Văn T đã bỏ lại xe mô tô biển kiểm soát 98F1- xxxxx ở cạnh đường rồi chạy trốn. Lý Văn G bị người dân phối hợp cùng Công an huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn bắt giữ cùng tang vật là 01chiếc xe mô tô, nhãn hiệu HONDA Wave, biển kiểm soát 12K1-xxxxx; 01 chìa khóa xe mô tô biển kiểm soát 12K1-xxxxx, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 019246 do Công an tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 13-12-2007 và 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu HONDA Wave, biển kiểm soát 98F1-xxxxx; còn Hoàng Văn T thì chạy thoát. Sau khi thấy người dân không truy đuổi nữa, Hoàng Văn T đã đón xe khách đến thôn C, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang để trốn. Đến 14 giờ 00 phút ngày 21-11- 2022, Hoàng Văn T đến Công an xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang để đầu thú.

Về vật chứng: Hiện đang tạm giữ 01 biển kiểm soát 98F1-xxxxx của bị cáo Lý Văn G lấy tại một cửa hàng sửa chữa xe máy (không nhớ địa chỉ).

Về bồi thường thiệt hại: Bị hại ông Chu Văn H, bà Hoàng Thị L1 không có yêu cầu các bị cáo Lý Văn G, Hoàng Văn T bồi thường thiệt hại về dân sự. Về trách nhiệm hình sự ông Chu Văn H, bà Hoàng Thị L1 yêu cầu xét xử theo quy định pháp luật.

Bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn ngày 23-11-2022 xác định: Giá trị chiếc xe mô tô, nhãn hiệu HONDA WAVE, biển kiểm soát 12K1-xxxxx là 2.767.000 đồng.

Cáo trạng số: 13/CT-VKSCL ngày 07 tháng 02 năm 2023, Viện kiểm sát nhân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố các bị cáo Lý Văn G, Hoàng Văn T về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Lý Văn G, Hoàng Văn T thừa nhận bị truy tố về tội Trộm cắp tài sản như nội dung của Cáo trạng là đúng, không oan sai.

Bị hại ông Chu Văn H và bà Hoàng Thị L1 tại phiên tòa khai: Ông bà bị các bị cáo trộm cắp 01 xe mô tô như nội dung cáo trạng truy tố là đúng. Ông bà giữ nguyên lời khai trong quá trình điều tra và không có yêu cầu các bị cáo Lý Văn G, Hoàng Văn T bồi thường thiệt hại về dân sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Lưu Văn L2 khai trong quá trình điều tra: Xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu xanh-đen, số khung: RLHJA3927MY195075, số máy: JA39E - 2314348 thuộc sở hữu của anh, anh cho bị cáo Hoàng Văn T mượn từ ngày 06-11-2022 để đi lại. Xe có Biển kiểm soát đúng là 12D1-xxxxx nhưng sau khi cho bị cáo Hoàng Văn T mượn xe đã bị rơi mất biển kiểm soát này, còn việc bị cáo Lý Văn G lấy biển kiểm soát khác lắp vào xe thì anh không biết. Ngày 20-11-2022, bị cáo Hoàng Văn T đã tự ý lấy xe mô tô đi trộm cắp tài sản, anh không biết. Ngày 04-01- 2023 Công an huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn trả lại chiếc xe trên cùng giấy chứng nhận đăng ký xe cho anh. Tại phiên tòa anh không có yêu cầu gì.

Người làm chứng ông Nông Văn S1 khai: Ông là hàng xóm của bị hại, hôm xảy ra sự việc, ông đang ở gần đó, ông nhìn thấy hai bị cáo Lý Văn G, Hoàng Văn T trộm cắp xe mô tô của ông Chu Văn H và bà Hoàng Thị L1 đang để cạnh đường, sau đó ông đã báo cho bà Hoàng Thị L1 biết. Ngoài ra, ông không biết gì thêm.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm buộc tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh, tuyên bố các bị cáo Lý Văn G, Hoàng Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; các Điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lý Văn G, xử phạt từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Văn T, xử phạt từ 09 tháng đến 01 năm tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về bồi thường thiệt hại: Không đề nghị xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy biển kiểm soát 98F1-xxxxx của bị cáo Lý Văn G.

Phần tranh luận:

Luật sư Lâm Xuân Tặng người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn T trình bày ý kiến tranh luận: Nhất trí về hành vi, về tội danh, về nhân thân, vai trò từng bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, xử lý vật chứng như luận tội của Kiểm sát viên. Xét vai trò của bị cáo Hoàng Văn T chỉ là người giúp sức cho bị cáo Lý Văn G, thiệt hại của bị hại đã được khắc phục, bị cáo còn thiếu hiểu biết về pháp luật, bị cáo có nhân thân tốt, đã ra đầu thú, nên mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù là cao so với hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định mức hình phạt từ 06 tháng đến 07 tháng tù đối với bị cáo.

Kiểm sát viên đối đáp ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn T: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng cho xã hội, ban đầu bị cáo có hành vi can ngăn bị cáo Lý Văn G nhưng sau đó đã có sự tiếp nhận ý trí và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cùng bị cáo Lý Văn G, tuy nhiên khi bị phát hiện hành vi, bị cáo đã bỏ trốn gây khó khăn cho cơ quan điều tra xem xét điều tra vụ việc, nên cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để giáo dục cho chính bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội, vì vậy Kiểm sát viên giữ nguyên mức hình phạt đã đề nghị.

Bị cáo Hoàng Văn T không có ý kiến tranh luận bổ sung. Bị cáo Lý Văn G, bị hại không ai có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Lưu Văn L2 vắng mặt có lí do. Xét thấy người vắng mặt đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt người này.

[2] Về hành vi, quyết định của Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Tại phiên tòa, các bị cáo Lý Văn G, Hoàng Văn T đã khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan điều tra, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vật chứng đã thu giữ, các kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 20-11-2022 tại Km 27+600 Quốc lộ 1A, thuộc địa phận thôn N, xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Lợi dụng sơ hở, các bị cáo Lý Văn G, Hoàng Văn T có hành vi trộm 01 xe mô tô biển kiểm soát 12K1-xxxxx của ông Chu Văn H và bà Hoàng Thị L1, mục đích bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Tài sản trị giá 2.767.000 đồng. Hành vi nêu trên của các bị cáo Lý Văn G, Hoàng Văn T đã phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Các bị cáo là thanh niên còn trẻ, có thể chất phát triển bình thường, có đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng vì bản thân lười lao động muốn có tiền chi tiêu cá nhân từ việc trộm cắp tài sản của người khác đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội cho thấy các bị cáo coi thường pháp luật. Hành vi của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm trước pháp luật.

[5] Đây là vụ án đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, nên phải xem xét đến vai trò của từng bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội để quyết định hình phạt tương xứng với hành vi đó.

[6] Bị cáo Lý Văn G có vai trò cao nhất trong vụ án này là người khởi xướng, rủ bị cáo Hoàng Văn T cùng tham gia trộm cắp tài sản, chuẩn bị công cụ phạm tội nên phải chịu mức hình phạt tương xứng. Bị cáo Hoàng Văn T giúp sức cùng bị cáo Lý Văn G tham gia trộm cắp tài sản nhưng có vai trò thấp hơn bị cáo Lý Văn G.

[7] Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt.

[8] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lý Văn G có nhân thân xấu, tuy không có tiền sự nhưng đã có 01 tiền án ngày 28-12-2016 bị Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử về tội Làm giả con dấu, xử phạt 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, bị cáo đã chấp hành xong bản án ngày 28-12-2021, đến nay chưa được xóa án tích; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Hoàng Văn T có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì; bị cáo ra đầu thú nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lý Văn G phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là tái phạm; bị cáo Hoàng Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[9] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo tính răn đe, giáo dục cho chính các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, cần thiết phải cách ly các bị cáo Lý Văn G ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định. Đối với bị cáo Hoàng Văn T sau khi bị bị hại và người dân phát hiện ra hành vi phạm tội đã bỏ trốn gây khó khăn cho cơ quan điều tra xử lý vụ việc, nên cần thiết phải có bản án nghiêm khắc mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục cho chính bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung cho xã hội.

[10] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo Lý Văn G, Hoàng Văn T không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[11] Xét lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định trên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[12] Về bồi thường thiệt hại: Các bị hại ông Chu Văn H, bà Hoàng Thị L1 không có yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại về dân sự, nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

[13] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 biển kiểm soát 98F1-xxxxx của bị cáo Lý Văn G do không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[14] Xác nhận ngày 04-01-2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 12K1-xxxxx, nhãn hiệu HONDA WAVE, màu sơn đỏ đen, số khung: 09056Y271823, số máy: HC09E6271913, xe đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 019246 do Công an tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 13-12- 2007; 01 chìa khóa xe mô tô biển kiểm soát 12K1-xxxxx cho chủ sở hữu là ông Chu Văn H.

[15] Đối với 01 thanh kim loại hình chữ T (Vam) bị cáo Lý Văn G sử dụng để phá khóa xe mô tô, trong quá trình chạy trốn đã bị rơi mất. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm tang vật nhưng không tìm thấy, nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

[16] Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu xanh-đen, số khung: RLHJA3927MY195075, số máy: JA39E - 2314348 thuộc sở hữu của anh Lưu Văn L2 cho bị cáo Hoàng Văn T mượn từ ngày 06-11-2022. Xe có biển kiểm soát 12D1-xxxxx nhưng sau khi bị cáo Hoàng Văn T mượn xe đã bị rơi mất biển kiểm soát. Ngày 20-11-2022, bị cáo Hoàng Văn T đã tự ý lấy xe mô tô đi trộm cắp tài sản, anh Lưu Văn L2 không biết. Ngày 04-01-2023 Công an huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn tiến hành trả lại chiếc xe trên cùng giấy chứng nhận đăng ký xe cho anh Lưu Văn L2 là đúng quy định pháp luật.

[17] Về án phí: Các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[18] Quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo qui định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; các Điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lý Văn G; khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Văn T; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, các điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 292, các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23, khoản 8 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lý Văn G, Hoàng Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Về hình phạt:

2.1. Xử phạt bị cáo Lý Văn G 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 20 tháng 11 năm 2022.

2.2. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 21 tháng 11 năm 2022.

3. Về xử lý vật chứng:

3.1. Tịch thu, tiêu hủy của bị cáo Lý Văn G 01 biển kiểm soát 98F1- xxxxx.

3.2. Xác nhận ngày 04-01-2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 12K1-xxxxx, nhãn hiệu HONDA WAVE, màu sơn đỏ đen, số khung: 09056Y271823, số máy: HC09E6271913, xe đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 019246 do Công an tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 13-12- 2007; 01 chìa khóa xe mô tô biển kiểm soát 12K1-xxxxx cho chủ sở hữu là ông Chu Văn H.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Công an huyện Chi Lăng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Lạng Sơn ngày 07 tháng 02 năm 2023).

4. Về án phí: Các bị cáo Lý Văn G, Hoàng Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

88
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội trộm cắp tài sản số 14/2023/HS-ST

Số hiệu:14/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chi Lăng - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:17/02/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về