Bản án về tội trộm cắp tài sản số 141/2023/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 141/2023/HS-ST NGÀY 30/03/2023 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Trong ngày 30 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 81/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2023 đối với các bị cáo:

1) Họ và tên: Lý Cao Q, sinh năm 1993, tại Đồng Nai. Hộ khẩu thường trú: 90, tổ 9C, khu phố 12, phường A, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: Sống lang thang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không: Q tịch: Việt Nam; Con ông: Lý Minh Sáng, sinh năm 1958 và bà Lục Sắc Mùi, sinh năm 1968;

Tiền án: Tại bản án số 218/2021/HS-ST ngày 20/4/2021, bị Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”;

Tiền sự: Không;

Nhân thân:

+ Tại bản án số 65/2011/HS-ST ngày 24/01/2011, bị Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;

+ Tại bản án số 757/2011/HS-ST ngày 19/12/2011, bị Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”;

Bị bắt: 07/8/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (Có mặt).

2) Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 2004, tại Đồng Nai.

Hộ khẩu thường trú: 119, tổ 12, khu phố 3, phường A, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không: Q tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Tho Em, sinh năm 1976 và bà Cao Thị Huyền, sinh năm 1986;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị bắt: 07/8/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam B5 – Công an tỉnh Đồng Nai (Có mặt).

+ Những bị hại:

1) Anh Lê Cường T, sinh năm 1986.

Địa chỉ: C353A, tổ 12, khu phố 3, phường L, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

2) Anh Ngô Văn Th, sinh năm 1996.

Địa chỉ: ấp Đồng Tranh, xã V, huyện Vĩnh Thanh, tỉnh Kiên Giang.

Chỗ ở hiện nay: A14 đường số 01, khu dân cư A, phường A, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lý Cao Q và Nguyễn Văn T là những người không có nghề nghiệp và sử dụng trái phép chất ma túy. Để có tiền tiêu xài, Q và T đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác để đem bán, cụ thể như sau:

+ Vụ thứ 01: Khoảng 05 giờ ngày 11/7/2020, Q và đối tượng tên Tuấn Tr (chưa rõ họ, địa chỉ) rủ nhau đi trộm cắp tài sản để đem bán lấy tiền tiêu xài. Tuấn Tr điều khiển xe mô tô hiệu Wave (không rõ biển số) chở Q đi đến dãy nhà trọ thuộc tổ 36, khu phố 4, phường Bình Đa, thành phố Biên Hoà thì cả hai phát hiện 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 68L1-X của anh Ngô Văn Th, ngụ tại xã V, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang đang dựng trước phòng trọ số 4 (do anh Th thuê ở trọ) không có người trông coi và cửa cổng không khóa. Lúc này, Tuấn Tr dừng xe lại và ngồi trên xe cảnh giới còn Q đi vào trong dãy phòng trọ lấy ổ khóa đang móc trên cửa cổng để móc vào cửa phòng trọ rồi dắt xe mô tô của anh Th ra ngoài đường. Do không khởi động máy được nên Q ngồi lên điều khiển xe mô tô của anh Th để Tuấn Tr điều khiển xe mô tô chạy phía sau dùng chân đẩy xe cho Q đưa xe đi đến nhà bạn của Q là Phan Nguyên Thanh tại số 117, tổ 9C, khu phố 12, phường A, TP. Biên Hòa. Tại đây, Q nhờ Thanh mở khóa xe để khởi động máy và giao xe cho Thanh đem đi bán nên sau khi Q và Tuấn Tr đi về thì Thanh đem xe mô tô trên về để tại phòng trọ của chị gái là Phan Thị Ngọc Thúy ở số 30/10, tổ 12, khu phố 6, phường Tam Hiệp, TP. Biên Hòa. Sau khi phát hiện bị mất tài sản, anh Ngô Văn Th đã đến Công an phường Bình Đa trình báo sự việc. Đến khoảng 17 giờ ngày 11/7/2020, Công an phường Tam Hiệp kiểm tra hành chính phòng trọ của chị Thúy thì phát hiện xe mô tô trên nên đã tạm giữ và chuyển đến Công an phường Bình Đa xác minh. Sau đó, Công an phường Bình Đa đã lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Biên Hòa điều tra, xử lý.

Vật chứng vụ án:

- 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 68L1-X. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa đã thu hồi và trả lại cho anh Ngô Văn Th.

- 01 xe mô tô hiệu Wave (không rõ biển số) của đối tượng Tuấn Tr (chưa rõ họ, địa chỉ). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa không thu giữ được.

Tại bản kết luận định giá số 1808/KL-HĐĐGTS ngày 28/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Biên Hòa kết luận: “01 xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 68L1-X trị giá 25.575.000 đồng (Hai mươi lăm triệu năm trăm bảy mươi lăm ngàn đồng)”.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Ngô Văn Th không yêu cầu bồi thường.

+ Vụ thứ 02: Khoảng 16 giờ ngày 03/08/2022, Nguyễn Văn T và Lâm (chưa rõ họ, địa chỉ) đến chơi tại nhà Q ở số 90, tổ 9C, khu phố 12, phường A, TP. Biên Hòa. Tại đây, Q mượn xe mô tô (không rõ biển số) của Lâm và rủ T đi trộm cắp tài sản thì T đồng ý. Q điều khiển xe mô tô chở T đi đến khu vực huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai gặp bạn của T là Tý (chưa rõ họ, tên thật, địa chỉ) để mượn 01 cây đoản phá khóa rồi Q chở T quay về khu vực phường L, TP. Biên Hòa để tìm xem nhà ai có sơ hở sẽ trộm cắp tài sản. Khi đi ngang qua nhà anh Lê Cường T tại số C353A, tổ 12, khu phố 3, phường L thì cả hai phát hiện 01 xe mô tô hiệu Sirius, biển số 60V2-X của anh T đang dựng trong sân nhà và không khóa cửa cổng nên Q rủ T lấy trộm và T đồng ý. Lúc này, Q dừng xe đứng cảnh giới để T đi vào trong sân nhà anh T dùng đoản phá khóa xe mô tô trên rồi khởi động máy và cả hai điều khiển xe chạy về nhà Q. Sau đó, Q trả lại xe mô tô cho Lâm rồi Q điều khiển xe mô tô của anh T đến cầm cho 01 người tên Bí (không rõ họ, địa chỉ) tại 01 tiệm game bắn cá không rõ địa chỉ ở khu vực phường Bình Đa, TP. Biên Hòa được 800.000 đồng, Q chia cho Lâm 200.000 đồng, chia cho T 300.000 đồng. Sau khi phát hiện bị mất tài sản, anh Lê Cường T đã trình báo Công an phường L.

Qua xác minh, Công an phường L đã mời Lý Cao Q và Nguyễn Văn T về làm việc và lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Biên Hòa. Ngày 07/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Biên Hòa đã bắt, tạm giữ Lý Cao Q và Nguyễn Văn T để điều tra, xử lý.

Vật chứng vụ án:

- 01 xe mô tô hiệu Sirius, biển số 60V2-X do Lý Cao Q đã cầm cho 01 người tên Bí (không rõ họ, địa chỉ) tại 01 tiệm game bắn cá không rõ địa chỉ ở khu vực phường Bình Đa, TP. Biên Hòa. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa không thu hồi được.

- 01 xe mô tô không rõ biển số Lý Cao Q mượn của đối tượng Lâm (chưa rõ họ, địa chỉ) và đã trả lại cho Lâm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa không thu giữ được.

- 01 cây đoản phá khóa Nguyễn Văn T mượn của đối tượng Tý (chưa rõ họ, địa chỉ) và đã trả lại cho Tý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa không thu giữ được.

Tại bản kết luận định giá số 413/KL-HĐĐGTS ngày 10/08/2022 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Biên Hòa kết luận: “01 xe mô tô hiệu Sirius, biển số 60V2-X trị giá 10.200.000 đồng (Mười triệu hai trăm ngàn đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Cường T yêu cầu bồi thường 10.200.000 đồng. Hiện Nguyễn Văn T và Lý Cao Q chưa bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 91/CT-VKSBH ngày 10/02/2023 của Viện kiểm Sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố các bị cáo Lý Cao Q và Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; riêng đối với bị cáo Q áp dụng thêm điểm h, g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt:

+ Bị cáo Lý Cao Q mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

+ Bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Đồng thời tuyên buộc các bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Lê Cường T số tiền 10.200.000 đồng theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo Lý Cao Q và Nguyễn Văn T không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, các bị cáo Lý Cao Q và Nguyễn Văn T đã khai nhận vào ngày 03/8/2022, tại địa chỉ: C353A, tổ 12, khu phố 3, phường L, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai lợi dụng sự sơ hở của anh Lê Cường T, bị cáo Q cùng với bị cáo T đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe mô tô hiệu Sirius, biển số 60V2-X. Đến ngày 07/8/2022 các bị cáo bị bắt giữ xử lý theo quy định pháp luật.

Tại bản kết luận định giá số 413/KL-HĐĐGTS ngày 10/08/2022 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Biên Hòa kết luận: “01 xe mô tô hiệu Sirius, biển số 60V2-X trị giá 10.200.000 đồng (mười triệu hai trăm ngàn đồng).

Ngoài ra, vào ngày 11/7/2020, bị cáo Q cùng đối tượng tên Tuấn Tr (chưa rõ họ, địa chỉ) đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 68L1-X của anh Ngô Văn Th tại dãy nhà trọ thuộc tổ 36, khu phố 4, phường Bình Đa, thành phố Biên Hòa.

Tại bản kết luận định giá số 1808/KL-HĐĐGTS ngày 28/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Biên Hòa kết luận: “01 xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 68L1-X trị giá 25.575.000 đồng (hai mươi lăm triệu năm trăm bảy mươi lăm ngàn đồng”.

Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Lý Cao Q và Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố và viện dẫn.

[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng nên các bị cáo đã cùng nhau thực hiện việc trộm cắp tài sản; bị cáo Q là người đã chủ động rủ rê bị cáo T và sử dụng xe mô tô, cây đoản phá khóa để làm phương tiện, công cụ phạm tội; bị cáo T tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức tích cực, là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản rồi cùng nhau tẩu thoát. Do vậy, với vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử có cân nhắc xem xét vai trò của các bị cáo là ngang nhau khi quyết định mức hình phạt.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đồng thời cũng chỉ vì lười lao động nên các bị cáo đã có hành vi trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác là khách thể được pháp luật bảo vệ, không những làm ảnh hưởng đến cuộc sống của bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội tại địa phương; ngoài ra, bị cáo Q là người tham gia 02 vụ trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 35.775.000 đồng và đã từng có 01 tiền án: Tại bản án số 218/2021/HS-ST ngày 20/4/2021, bị Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội mới thuộc tình tiết tăng nặng tái phạm, phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm h, g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự và có nhân thân xấu vào ngày 24/01/2011, bị Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 19/12/2011, bị Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; bị cáo T tham gia 01 vụ trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 10.200.000 đồng.

Qua đó, thể hiện các bị cáo là đối tượng liều lĩnh, có thái độ xem thường pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật của các bị cáo là rất kém. Do vậy, đối với các bị cáo cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra nhằm mục đích giáo dục cải tạo và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Bị cáo Q phạm tội tái phạm, 02 lần trở lên theo quy định tại điểm h, g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho các bị cáo.

Đối với các đối tượng tên Tuấn Tr, Lâm và Tý do chưa rõ họ tên thật và địa chỉ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Biên Hòa tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.

Đối với Phan Nguyên Thanh hiện nay không có mặt tại nơi cư trú và chưa làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Biên Hòa tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

- Buộc các bị cáo Lý Cao Q, Nguyễn Văn T phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Lê Cường T số tiền 10.200.000 đồng. Chia phần, cụ thể:

+ Bị cáo Lý Cao Q phải bồi thường 5.100.000 đồng (năm triệu một trăm ngàn đồng).

+ Bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi thường 5.100.000 đồng (năm triệu một trăm ngàn đồng).

- Anh Ngô Văn Th đã nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng:

+ 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 68L1-X. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Biên Hòa đã thu hồi và trả lại cho anh Ngô Văn Th.

+ 01 xe mô tô hiệu Wave (không rõ biển số) của đối tượng Tuấn Tr (chưa rõ họ, địa chỉ). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Biên Hòa không thu giữ được.

+ 01 xe mô tô hiệu Sirius, biển số 60V2-X do Lý Cao Q đã cầm cho 01 người tên Bí (không rõ họ, địa chỉ) tại 01 tiệm game bắn cá không rõ địa chỉ ở khu vực phường Bình Đa, TP. Biên Hòa. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Biên Hòa không thu hồi được.

+ 01 xe mô tô không rõ biển số Lý Cao Q mượn của đối tượng Lâm (chưa rõ họ, địa chỉ) và đã trả lại cho Lâm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Biên Hòa không thu giữ được.

+ 01 cây đoản phá khóa Nguyễn Văn T mượn của đối tượng Tý (chưa rõ họ, địa chỉ) và đã trả lại cho Tý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Biên Hòa không thu giữ được.

[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q hội, các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 46; Điều 47; Điều 48; riêng đối với bị cáo Q áp dụng thêm điểm h, g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106;

Điều 136; ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q hội quy định về mức thu, giảm, miễn, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố các bị cáo Lý Cao Q và Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt:

+ Bị cáo Lý Cao Q 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/8/2022.

+ Bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/8/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 357, khoản 2 Điều 468, Điều 584, Điều 586; Điều 587 của Bộ luật dân sự năm 2015.

+ Buộc bị cáo Lý Cao Q phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Lê Cường T số tiền 5.100.000 đồng (năm triệu một trăm ngàn đồng).

+ Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Lê Cường T số tiền 5.100.000 đồng (năm triệu một trăm ngàn đồng).

3. Về án phí:

+ Các bị cáo Lý Cao Qu, Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

+ Bị cáo Lý Cao Qu phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

+ Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Riêng những bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

133
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội trộm cắp tài sản số 141/2023/HS-ST

Số hiệu:141/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:30/03/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về