TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TÌNH BÌNH THUẬN
BẢN ÁN 138/2023/HS-ST NGÀY 08/12/2023 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Ngày 08 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 128/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2023, đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn Duy A, (Tên gọi khác: T), Sinh năm: 1995; Nơi sinh: Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố A, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Thu mua phế liệu; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Con ông: Nguyễn Xuân B, sinh năm: 1967 và bà Trương Thị T1, sinh năm: 1968; c sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn với Nguyễn Thị T2, sinh năm: 1998; Có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, Tiền sự: Không.
Nhân thân:
+ Ngày 25/6/2012, bị UBND thị xã L đưa vào Trường G về hành vi “Trộm cắp tài sản” với thời hạn 24 tháng (Quyết định số 183). Ngày 02/7/2014, đã chấp hành xong.
+ Ngày 15/6/2021, bị UBND phường p xử phạt vi phạm hành chính 3.000.000 đồng về hành vi “Sử dụng vũ khí (súng hơi tự chế) trái quy định nhưng chưa gây hậu quả” (Quyết định số 1181/QĐ-XPVPHC). Năm 2021, Nguyễn Duy A đã nộp phạt xong.
+ Ngày 19/9/2023, bị Công an thị xã L xử phạt vi phạm hành chính 3.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Quyết định số 0035958/QĐ-XPHC). Ngày 20/9/2023, Nguyễn Duy A đã đóng phạt.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/7/2023, bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã L. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
2/ Lương Vũ N, (Tên gọi khác: Nhân K), Sinh năm: 1987; Nơi sinh: Bình Thuận; Nơi đăng ký thường trú: khu phố C, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở hiện nay: Không có chỗ ở ổn định; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Con ông: Lương Minh L (Đã chết) và bà Hồ Thị Ngọc P, sinh năm: 1952; Vợ, con: Không có; Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 03/11/2022, bị Công an thị xã L xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi “lén lút chiếm đoạt tài sản” (Quyết định số 0026626/QĐ- XPHC). Hiện nay vẫn chưa đóng phạt.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 05/9/2023, bị tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã L. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
3/ Võ Tuấn H, (Tên gọi khác: N1), Sinh năm: 1996; Nơi sinh: Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn H, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông: Võ Tấn H1, sinh năm: 1973 và bà Trần Thị Diễm C1, sinh năm: 1976; Vợ, con: Không có; Tiền sự: không.
Tiền án:
+ Ngày 09/3/2016, bị Tòa án nhân dân thị xã La Gi xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Bản án số 12/2016/HSST). Ngày 19/02/2018, chấp hành xong hình phạt tù.
+ Ngày 24/10/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã La Gi xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Bản án số 82/2019/HSST). Ngày 26/11/2022, chấp hành xong hình phạt tù theo Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số 1009/GCN của Giám thị Trại giam S2.
- Nhân thân: Ngày 10/5/2012, bị UBND thị xã L đưa vào Trường G về hành vi “Trộm cắp tài sản” với thời hạn 24 tháng (Quyết định số 134). Ngày 14/5/2014, đã chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 01/9/2023, bị tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã L. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
4/ Trần Thanh P1, (Tên gọi khác: U), Sinh năm: 1995; Nơi sinh: Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Đi biển; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Con ông: Trần Thanh T3, sinh năm: 1979 và bà Nguyễn Thị Thùy L1, sinh năm: 1978; Vợ, con: Không có; Tiền án, Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 10/11/2011, bị UBND thị xã L đưa vào Trường G về hành vi “Trộm cắp tài sản” với thời hạn 24 tháng (Quyết định số 355). Ngày 30/8/2013, đã chấp hành xong.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/7/2023, bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã L. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa) 5/ Lương Hồng Đ, Sinh năm: 2000; Nơi sinh: Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn H, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Con ông: Lương Văn Đ1, sinh năm: 1966 và bà Nguyễn Thị T4, sinh năm: 1965; Vợ, con: Không có; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/7/2023, bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã L. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
* Bị hại: Ông Trương Văn L2, sinh năm: 1983. Địa chỉ: Khu phố G, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ đến vụ án:
1/ Châu Ngọc S, sinh năm: 1995. Nơi cư trú: Thôn H, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Vắng mặt) 2/ Nguyễn Khắc T5, sinh năm: 1985. Nơi cư trú: Thôn B, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Vắng mặt) 3/ Trương Thị T1, sinh năm: 1968. Nơi cư trú: Khu phố A, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Có mặt) 4/ Lương Văn Đ1, sinh năm: 1966. Nơi cư trú: Thôn H, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ ngày 25/7/2023 đến ngày 30/7/2023, Nguyễn Duy A, Lương Vũ N, Võ Tuấn H, Trần Thanh P1, Lương Hồng Đ lợi dụng kho xưởng của ông Trương Văn L2 ở khu vực rẫy thuộc thôn H, xã T, thị xã L không có người trông coi nên đã thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 18 giờ ngày 25/7/2023, Lương Vũ N điều khiển xe mô tô (không có biển số) vào khu vực rẫy thuộc thôn H, xã T, thị xã L thì phát hiện thấy kho xưởng của ông Trương Văn L2 không có ai trông coi, N mở cửa đi vào bên trong kho lấy trộm 01 thân máy phun sơn tĩnh điện khô hiệu Max Powdercoating; 02 bộ phun sơn tĩnh điện khô hiệu M. Sau khi lấy trộm được tài sản, N đem bán cho Nguyễn Duy A với giá 600.000 đồng. Khi bán, N nói với Duy A là tài sản nhặt được nên Duy A đồng ý mua. Sau khi bán được tài sản, N tiêu xài cá nhân hết.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 64 ngày 11/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã L kết luận:
+ 01 thân máy phun sơn tĩnh điện khô hiệu Max Powdercoating, đã qua sử dụng, còn hoạt động; có giá trị là 16.000.000 đồng.
+ 01 bộ phun sơn tĩnh điện khô hiệu M, đã qua sử dụng, còn hoạt động; có giá trị là 17.600.000 đồng.
+ 01 bộ phun sơn tĩnh điện khô hiệu M, đã qua sử dụng, còn hoạt động; có giá trị là 17.600.000 đồng. (Bút lục: 69).
Tổng giá trị tài sản là: 51.200.000 đồng.
Vụ thứ hai: Sau khi bán máy sơn tĩnh điện, Lương Vũ N nói cho Nguyễn Duy A biết là N phát hiện kho xưởng không có người trông coi ở khu vực rẫy thuộc thôn H, xã T, thị xã L. Đen khoảng 09 giờ ngày 26/7/2023, Duy A điều khiển xe mô tô chạy vào thôn H, xã T để quan sát rồi về kể và bàn với Lương Hồng Đ và Võ Tuấn H cùng đi trộm cắp tài sản tại kho này. Vào khoảng 22 giờ ngày 26/7/2023, Duy A rủ Lương Hồng Đ, Võ Tuấn H và Lương Vũ N kéo theo 01 xe lôi lén lút đột nhập vào kho xưởng của ông Trương Văn L2 rồi trộm cắp: 01 máy khoan bàn hiệu Hồng Ký; 01 máy bơm hơi hiệu PUMA Aircompressor; 01 khung sắt sơn màu trắng, kích thước (02x0,4x01) mét; 01 khung sắt sơn màu trắng, kích thước (01x0,3x0,7) mét; 07 tờ giấy nhám SMS GXK51-PP80; 02 đôn bằng gỗ kích thước (45x45)cm; 15 mét dây điện hiệu Standars; 03 tấm gỗ ghép công nghiệp kích thước (22,5x34,5x1,8)cm; 05 tấm gỗ ghép công nghiệp, kích thước (25x14x1,8)cm; 13 tấm gỗ ghép công nghiệp, kích thước (36x34,5x1,8)cm; 13 tấm gỗ ghép công nghiệp kích thước (36x18x1,8)cm; 01 mô tơ hiệu Hitachi; 02 quạt công nghiệp (không có chân đế), 01 thùng Inox của bộ P2 sơn tĩnh điện khô hiệu Max Powdercoating. Sau đó, cả bọn kéo các tài sản vừa trộm được về nhà Lương Hồng Đ để cất giấu. Đen rạng sáng ngày 27/7/2023, Nguyễn Duy A, Lương Hồng Đ và Võ Tuấn H kéo các tài sản trên về kho của Duy A tại khu phố A, phường P, thị xã L để cất giấu.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 49 ngày 08/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã L kết luận:
+ 01 máy khoan bàn hiệu Hồng Ký, đã qua sử dụng, còn hoạt động; có giá trị là: 4.500.000 đồng.
+ 01 máy bơm hơi hiệu PUMA Aircompressor, đã qua sử dụng, còn hoạt động; có giá trị là: 11.200.000 đồng.
+ 01 khung sắt sơn màu trắng, kích thước (02x0,4x01) mét, chưa qua sử dụng; có giá trị là: 1.000.000 đồng.
+ 01 khung sắt sơn màu trắng, kích thước (01x0,3x0,7) mét, chưa qua sử dụng; có giá trị là: 600.000 đồng.
+ 07 tờ giấy nhám hiệu SMS GXK51-PP80, chưa qua sử dụng; có giá trị là: 07 tờ x 180.000 đồng = 1.260.000 đồng.
+ 02 đôn bằng gỗ, kích thước (45x45)cm, chưa qua sử dụng; có giá trị là: 02 đôn x 200.000 đồng = 400.000 đồng.
+ 15 mét dây điện hiệu Standars, đã qua sử dụng; có giá trị là: 15m x 25.000 đồng = 375.000 đồng.
+ 03 tấm gỗ ghép công nghiệp kích thước (22,5x34,5x1,8)cm, chưa qua sử dụng; có giá trị là: 03 tấm x 30.000 đồng = 90.000 đồng.
+ 02 tấm gỗ ghép công nghiệp kích thước (36x34,5x1,8)cm, chưa qua sử dụng; có giá trị là: 02 tấm x 50.000 đồng = 100.000 đồng.
+ 01 mô tơ hiệu Hitachi, đã qua sử dụng, còn hoạt động; có giá trị là: 7.000.000 đồng.
+ 01 quạt công nghiệp (không có chân đế), công suất 110W, đã qua sử dụng, còn hoạt động; có giá trị là: 300.000 đồng.
+ 01 quạt công nghiệp (không có chân đế), màu đen, seri 1497141, đã qua sử dụng, còn hoạt động; có giá trị là: 500.000 đồng. (Bút lục: 57, 58).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 63 ngày 11/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã L kết luận:
+ 01 thùng Inox của bộ P2 sơn tĩnh điện khô hiệu Max Powdercoating, đã qua sử dụng, còn hoạt động; có giá trị là: 1.600.000 đồng.
+ 11 tấm gỗ ghép công nghiệp, kích thước (36x34,5x1,8)cm, chưa qua sử dụng; có giá trị là: 11 tấm x 50.000 đồng = 550.000 đồng.
+ 13 tấm gỗ ghép công nghiệp, kích thước (36x18x1,8)cm, chưa qua sử dụng; có giá trị là: 13 tấm x 40.000 đồng = 520.000 đồng.
+ 05 tấm gỗ ghép công nghiệp, kích thước (25x14x1,8)cm, chưa qua sử dụng; có giá trị là: 05 tấm x 30.000 đồng = 150.000 đồng. (Bút lục: 66).
Tổng giá trị tài sản là: 30.145.000 đồng.
Vụ thứ ba: Vào khoảng 17 giờ ngày 27/7/2023, Nguyễn Duy A rủ Lương Hồng Đ điều khiển xe mô tô tiếp tục đến kho xưởng của ông Trương Văn L2 lấy trộm: 01 mô tơ YE2FM-2, 4KW, màu đen; 01 mô tơ hiệu Teco 3,7KW, màu xám; 01 mô tơ giảm tốc, màu xám; 01 mô tơ MBF15-Y15-C5, màu xanh. Sau đó, cả hai chở các tài sản vừa trộm cắp được về nhà Đ để cất giấu. Đến khoảng 11 giờ ngày 28/7/2023, Duy A nhờ Nguyễn Khắc T5 dùng xe lôi chở các tài sản trên về kho của Duy A tại khu phố A, phường p, thị xã L; do không biết các tài sản trên là phạm tội mà có nên T5 đã đồng ý giúp Duy A. Đến 17 giờ 28/7/2023, Duy A nhờ Nguyễn Đức V đưa cho Lương Hồng Đ số tiền 500.000 đồng, đây là tiền thù lao D trả cho Đ, Nguyễn Đức V không biết nội dung sự việc nên đồng ý chuyển tiền giúp Duy A.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 49 ngày 08/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã L kết luận:
+ 01 mô tơ YE2FM-2, 4KW, màu đen, đã qua sử dụng, còn hoạt động; có giá trị là: 1.500.000 đồng.
+ 01 mô tơ hiệu Teco 3,7KW, màu xám, đã qua sử dụng, còn hoạt động; có giá trị là: 2.500.000 đồng.
+ 01 mô tơ giảm tốc, màu xám, đã qua sử dụng, còn hoạt động; có giá trị là: 2.000.000 đồng.
+ 01 mô tô MBF15-Y1 5-C5, màu xanh, đã qua sử dụng, còn hoạt động; có giá trị là: 3.500.000 đồng. (Bút lục: 57, 58).
Tổng giá trị tài sản là: 9.500.000 đồng.
Vụ thứ tư: Vào khoảng 22 giờ ngày 28/7/2023, Nguyễn Duy A rủ theo Trần Thanh P1 và Võ Tuấn H, Lương Vũ N, Nguyễn Khắc T5 đến kho xưởng của ông Trương Văn L2 để lấy trộm tài sản. Tuy nhiên trên đường đi, T5 bị hư đèn xe nên bỏ về, không tham gia nữa. Sau đó, Nguyễn Duy A, Võ Tuấn H, Lương Vũ N và Trần Thanh P1 lấy trộm các tài sản trong kho xưởng của ông Trương Văn L2 gồm: 01 bộ khung máy chà nhám vòng, màu xanh, kích thước (90x83,5x82,5)cm; 01 bộ mô tơ 3 pha 5HP, màu xám; 01 mô tơ Inducion, màu đen. Sau khi trộm được các tài sản trên, cả bọn kéo về nhà Lương Hồng Đ để cất giấu.
Đến khoảng 06 giờ ngày 29/7/2023, Lương Hồng Đ ngủ dậy thấy các tài sản trên thì gọi điện hỏi Nguyễn Duy A, lúc này Duy A cho biết các tài sản trên vừa trộm được ở kho xưởng thuộc thôn H, xã T, thị xã L vào đêm 28/7/2023 rồi nhờ Đ trông giữ, khi nào rảnh thì kéo các tài sản trên về kho của Duy A để cất giấu thì Đ đồng ý. Đến khoảng 09 giờ ngày 29/7/2023, Lương Hồng Đ điều khiển xe mô tô kéo xe lôi chở các tài sản trên về cho Nguyễn Duy A tại kho hàng của Duy A thuộc khu phố A, phường P, thị xã L.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 49 ngày 08/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã L kết luận:
+ 01 bộ khung máy chà nhám vòng, kích thước (90x83,5x82,5)cm, màu xanh, đã qua sử dụng, còn hoạt động; có giá trị là: 4.000.000 đồng.
+ 01 bộ mô tơ 3 pha 5HP, màu xám, đã qua sử dụng, còn hoạt động; có giá trị là: 1.200.000 đồng.
+ 01 mô tơ Inducion, màu đen, đã qua sử dụng, còn hoạt động; có giá trị là: 2.000.000 đồng. (Bút lục: 57, 58).
Tổng giá trị tài sản là: 7.200.000 đồng.
Vụ thứ năm: Vào khoảng 15 giờ ngày 30/7/2023, Võ Tuấn H nói cho Nguyễn Duy A biết về việc H và Trần Thanh P1 kéo xe lôi đến kho xưởng của ông Trương Văn L2 để trộm cắp tài sản. Do bận công việc nên Duy A nói H và P1 đi trộm trước, tối Duy A1 sẽ lên sau và cả ba thống nhất các tài sản trộm cắp được sẽ đưa cho Duy A1 để tiêu thụ. Đến 17 giờ cùng ngày, Võ Tuấn H rủ Trần Thanh P1 kéo theo xe lôi đến kho xưởng của ông L2 để trộm cắp tài sản; trên đường đi, H đến nhà Châu Ngọc S để mượn đèn pin. Lúc này S có hỏi H đi đâu thì H nói đi thăm bẩy rắn nên S xin đi theo thì được H đồng ý. Khi đến kho xưởng của ông L2, S thấy Trần Thanh P1 có kéo theo xe lôi nên hỏi lại H, lúc này H cho biết kéo theo xe lôi để trộm cắp tài sản trong kho xưởng thì S không đồng ý tham gia và nhờ H chở về. Sau đó, Võ Tuấn H điều khiển xe mô tô chở S về nhà và đi đổ xăng. Do lâu không thấy H quay lại, Trần Thanh P1 đã vào kho xưởng của ông L2 lấy trộm 01 bình khí Gas loại 37,1kg, màu xám; 01 máy bơm hơi hiệu Compressor, Modem F, 01 HP, 08kg, màu xanh bỏ lên xe lôi và chở về nhà Lương Hồng Đ rồi điều khiển xe mô tô đến kho của Nguyễn Duy A để kể cho Duy A và Đ nghe sự việc. Sau khi H đổ xăng xong, H kéo theo 01 xe lôi đến kho của ông L2 rồi lấy trộm 01 mô tơ không nhãn hiệu màu xám để lên xe mô tô rồi chở về nhà Lương Hồng Đ cất giấu, lúc này H để lại 01 xe lôi tại kho của ông Trương Văn L2. Lương Hồng Đ biết các tài sản Trần Thanh P1 và Võ Tuấn H để ở nhà mình là do trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 49 ngày 08/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã L kết luận:
+ 01 bình khí Gas loại 37,1kg, màu xám, đã qua sử dụng còn 20kg Ga; có giá trị là 1.116.000 đồng.
+ 01 máy bơm hơi hiệu hiệu Compressor, Modem F, 01 HP, 08kg, màu xanh; đã qua sử dụng, còn hoạt động; có giá trị là: 1.500.000 đồng. (Bút lục: 57, 58).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 64 ngày 11/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã L kết luận:
+ 01 mô tơ không nhãn hiệu, màu xám, đã qua sử dụng, còn hoạt động; có giá trị là: 1.500.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản là: 4.116.000 đồng.
Đối với ông Trương Văn L2, sau khi phát hiện các tài sản bị trộm cắp, ông L2 có Đơn trình báo đến Cơ quan Công an, đồng thời giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an thị xã L 01 xe lôi màu bạc xanh, kích thước (2,85x1,1x0,73) mét do Võ Tuấn H để lại kho của ông L2 vào ngày 30/7/2023.
Vào lúc 23 giờ 10 phút ngày 30/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã L tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lương Hồng Đ tại thôn H, xã T, thị xã L, thu giữ: 01 xe kéo thô sơ (xe lôi) màu xám bạc, trên xe kéo có 01 bình gas màu xám và 01 bình hơi màu xanh và 01 mô tơ màu xám không rõ nhãn hiệu nằm dưới xe kéo. Lương Hồng Đ khai nhận đây là các tài sản do Trần Thanh P1 trộm cắp để ở nhà Đ vào ngày 30/7/2023.
Vào lúc 10 giờ 00 phút ngày 31/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã L tiến hành khám xét kho chứa đồ của Nguyễn Duy A tại khu phố A, phường P, thị xã L, thu giữ: 01 bình bơm hơi màu xanh hiệu PUMA Aircompressor; 01 khung sắt màu xanh kích thước (90x83,5x82x5)cm; 07 cuộn giấy nhám; 01 mô tơ hiệu Hitachi màu vàng; 01 mô tơ hiệu Teco màu xanh; 01 mô tơ hiệu Teco 1-Pase Induction màu bạc; 01 bàn máy khoan hiệu Hồng Ký; 01 khung sắt màu trắng kích thước (02x0,4x1,05) mét; 01 khung sắt màu trắng kích thước (1,1x0,3x0,67) mét; 01 quạt máy màu đen hiệu Asia; 01 quạt máy màu xanh đậm hiệu Lifan; 01 máy cắt sắt hiệu Hồng Ký; 02 bộ máy sơn tĩnh điện màu vàng hiệu Powder Coating System; 01 bộ máy sơn tĩnh điện hiệu Max Powder Coating; 01 máy biến thế hàn màu đỏ hiệu Arc Welders, 03 đoạn dây điện màu xám tổng chiều dài 15 mét; 01 máy mô tơ màu đen không rõ chủng loại nhãn hiệu; 01 máy mô tơ màu xanh không rõ chủng loại nhãn hiệu; 01 máy mô tơ màu xám không rõ chủng loại, nhãn hiệu; 01 máy mô tơ màu đỏ không rõ chủng loại, nhãn hiệu; 13 tấm ván màu gỗ kích thước (36x34,5)cm; 13 tấm ván màu gỗ kích thước (36x18)cm; 05 tấm ván màu gỗ kích thước (15x25)cm; 03 tấm ván màu gỗ kích thước (25,5x34,5)cm; 02 bàn màu gỗ kích thước (45x45)cm. Nguyễn Duy A khai nhận các tài sản trên được lấy trộm từ kho thuộc thôn H, xã T, thị xã L.
Vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 31/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã L tiến hành khám xét nhà của Nguyễn Duy A tại khu phố A, phường P, thị xã L, thu giữ: ở ngăn kéo dưới cùng của tủ nhựa trong phòng ngủ của Nguyễn Duy A 01 đoạn ống nhựa màu trắng, được hàn kín, kích thước (1,4x2,4)cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng, dạng rắn. Nguyễn Duy A khai nhận đây là ma túy đá Duy A mua để sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 1017 ngày 15/8/2021 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Mau M gửi giám định có khối lượng 0,0498 gam; là Methamphetamine.
Vật chứng vụ án gồm:
+ 01 máy khoan bàn hiệu Hồng Ký màu nâu; 01 máy bơm hơi hiệu Puma Aircomperssor màu xanh; 01 khung sắt sơn màu trắng kích thước (02x0,4x01)mét; 01 khung sắt sơn màu trắng kích thước ( 01x0,3x0,7)mét; 07 tờ giấy nhám; 02 đôn bằng gỗ kích thước (45x45)cm; 15 mét dây điện Standars; 03 tấm gỗ ghép công nghiệp kích thước (25,5x34,5x1,8)cm; 02 tấm gỗ ghép công nghiệp, kích thước (36x34,5x1,8)cm; 01 mô tơ hiệu Hitachi màu vàng; 02 quạt công nghiệp (không có chân đế) màu đen; 01 mô tơ YE2F112M-2 màu đen; 01 mô tơ hiệu Teco màu xám; 01 mô tơ giảm tốc màu xám; 01 mô tơ MBF15-Y5-C5 màu xanh; 01 bộ khung máy chà nhám vòng màu xanh kích thước (90x83,5x82,5)cm; 01 mô tơ 3 pha màu xám; 01 mô tơ Induction màu đen; 01 bình Ga loại 37,1kg màu xám; 01 máy bơm hơi hiệu Compressor màu xanh; các vật chứng trên đã trả lại cho bị hại Trương Văn F2 vào ngày 23/8/2023. (Bút lục: 162).
+ 11 tấm gỗ ghép công nghiệp kích thước (36x34,5x1,8)cm; 13 tấm gỗ ghép công nghiệp, kích thước (36x18x1,8)cm; 05 tấm gỗ ghép công nghiệp kích thước (25x14x1,8)cm; 01 bộ phun sơn tĩnh điện kho hiệu Max Powdercoating; 02 bộ phun sơn tĩnh điện khô hiệu Max powdercoating System; 01 mô tơ tời màu xám; các vật chứng trên đã trả lại cho bị hại Truong Văn L2 vào ngày 02/10/2023. (Bút lục: 163).
+ 01 máy biến thế hàn cơ màu đỏ hiệu Arc WelDers và 01 máy cắt sắt hiệu Hồng Ký là tài sản của Nguyễn Duy A đã trả cho Duy A vào ngày 05/10/2023. (Bút lục: 224).
+ 01 xe lôi màu bạc xanh, kích thước (2,85x1,1x0,73) mét; 01 xe lôi màu nâu bạc, kích thước (02x01x0,43) mét; 01 đoạn ống nhựa màu trắng, được hàn kín, kích thước (l,4x2,4)cm, đã cắt lấy mẫu (trong quá trình giám định mẫu M) được niêm phong trong phong bì số 1017 của Phòng K1 Công an tỉnh B; Các vật chứng trên hiện đang được Chi cục thi hành án dân sự thị xã La Gi quản lý. Về dân sự:
+ Sau khi sự việc xảy ra, Nguyễn Duy A đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại Trương Văn L2 số tiền 100.000.000 đồng; Lương Hồng Đ tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 10 triệu đồng. Ông Trương Văn L2 không yêu cầu Nguyễn Duy A phải bồi thường gì thêm về dân sự.
+ Bị hại Trương Văn L2yêu cầu Lương Hồng Đ, Trần Thanh P1, Võ Tuấn H, Lương Vũ N phải bồi thường khắc phục hậu quả 100.000.000 đồng, là chi phí ông L2 thuê nhân công sửa chữa các máy móc, đồ vật bị trộm cắp. Hiện, các bị cáo Đ, P1, H, N chưa bồi thường cho bị hại.
Tại bản cáo trạng số 133/CT-VKSLG-HS ngày 31/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố bị cáo Nguyễn Duy A, Lương Vũ N về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự; bị cáo Võ Tuấn H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự; bị cáo Trần Thanh P1 về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự; bị cáo Lương Hồng Đ về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 và tội: “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy A, Lương Vũ N, Võ Tuấn H, Trần Thanh P1 phạm tội "Trộm cắp tài sản"; bị cáo Lương Hồng Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và tội: “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Áp dụng: Điểm c Khoản 2 Điều 173; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Phạt: Bị cáo Nguyễn Duy A, mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
- Áp dụng: Điểm c Khoản 2 Điều 173; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Phạt: Bị cáo Lương Vũ N, mức án từ 03 đến 04 năm tù.
- Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Phạt: Bị cáo Võ Tuấn H, mức án từ 04 đến 05 năm tù.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Phạt: Bị cáo Trần Thanh P1, mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Khoản 1 Điều 323; Điều 55; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Phạt: Bị cáo Lương Hồng Đ, mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tổng hợp hình phạt: Buộc bị cáo Lương Hồng Đ, phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng: Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với 01 xe lôi màu bạc xanh và 01 xe lôi màu nâu bạc.
Tịch thu tiêu hủy đối với phong bì số 1017 của Phòng K1 Công an tỉnh B.
Về dân sự: Ông Trương Văn L2 không yêu cầu giải quyết trong vụ án này, nên không xem xét. Ông L2 có quyền khởi kiện vụ án dân sự theo quy định.
- Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Duy A, Lương Vũ N, Võ Tuấn H, Trần Thanh P1, Lương Hồng Đ khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và thừa nhận cáo trạng của VKSND thị xã La Gi truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.
- Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến cũng như tranh luận gì đối với quan điểm của đại diện VKSND thị xã La Gi.
- Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy được hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Xét thấy, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập, phản ánh trong hồ sơ vụ án và thông qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa, có đủ căn cứ để kết luận:
Đây là vụ án ‘Trộm cắp tài sản” và “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” do các bị cáo Nguyễn Duy A, Lương Vũ N, Võ Tuấn H, Trần Thanh P1, Lương Hồng Đ cố ý thực hiện. Từ ngày 25/7/2023 đến ngày 30/7/2023, các bị cáo lợi dụng kho xưởng của ông Trương Văn L2 ở khu vực rẫy thuộc thôn H, xã T, thị xã L không có người trông coi nên đã thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 18 giờ ngày 25/7/2023, Lương Vũ N điều khiển xe mô tô (không có biển số) vào khu vực rẫy thuộc thôn H, xã T, thị xã L thì phát hiện thấy kho xưởng của ông Trương Văn L2 không có ai trông coi, N mở cửa đi vào bên trong kho lấy trộm 01 thân máy phun sơn tĩnh điện khô hiệu Max Powdercoating; 02 bộ phun sơn tĩnh điện khô hiệu M. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là: 51.200.000 đồng. Sau khi lấy trộm được tài sản, N đem bán cho Nguyễn Duy A với giá 600.000 đồng. Khi bán, N nói với Duy A là tài sản nhặt được nên Duy A đồng ý mua. Sau khi bán được tài sản, N tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 22 giờ ngày 26/7/2023, Nguyễn Duy A rủ Lương Hồng Đ, Võ Tuấn H và Lương Vũ N kéo theo 01 xe lôi lén lút đột nhập vào kho xưởng của ông Trương Văn L2 rồi trộm cắp: 01 máy khoan bàn hiệu Hồng Ký; 01 máy bơm hơi hiệu PUMA Aircompressor; 01 khung sắt sơn màu trắng, kích thước (02x0,4x01) mét; 01 khung sắt sơn màu trắng, kích thước (01x0,3x0,7) mét; 07 tờ giấy nhám SMS GXK51- PP80; 02 đôn bằng gỗ kích thước (45x45)cm; 15 mét dây điện hiệu Standars; 03 tấm gỗ ghép công nghiệp kích thước (22,5x34,5xl,8)cm; 05 tấm gỗ ghép công nghiệp, kích thước (25x14x1,8)cm;13 tấm gỗ ghép công nghiệp, kích thước (36x34,5x1,8)cm; 13 tấm gỗ ghép công nghiệp kích thước (36x18x1,8)cm; 01 mô tơ hiệu Hitachi; 02 quạt công nghiệp (không có chân đế), 01 thùng Inox của bộ P2 sơn tĩnh điện khô hiệu Max Powdercoating. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là: 30.145.000 đồng. Sau đó, các bị cáo kéo các tài sản vừa trộm được về nhà Lương Hồng Đ để cất giấu. Đen rạng sáng ngày 27/7/2023, Nguyễn Duy A, Lương Hồng Đ và Võ Tuấn H kéo các tài sản trên về kho của Duy A tại khu phố A, phường P, thị xã L để cất giấu.
Vụ thứ ba: Vào khoảng 17 giờ ngày 27/7/2023, Nguyễn Duy A rủ Lương Hồng Đ điều khiển xe mô tô tiếp tục đến kho xưởng của ông Trương Văn L2 lấy trộm: 01 mô tơ YE2FM-2, 4KW, màu đen; 01 mô tơ hiệu Teco 3,7KW, màu xám; 01 mô tơ giảm tốc, màu xám; 01 mô tơ MBF15-Y1 5-C5, màu xanh. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là: 9.500.000 đồng. Sau đó, cả hai chở các tài sản vừa trộm cắp được về nhà Đ để cất giấu. Đến khoảng 11 giờ ngày 28/7/2023, Duy A nhờ Nguyễn Khắc T5 dùng xe lôi chở các tài sản trên về kho của Duy A tại khu phố A, phường P, thị xã L; do không biết các tài sản trên là phạm tội mà có nên T5 đã đồng ý giúp Duy A.
Vụ thứ tư: Vào khoảng 22 giờ ngày 28/7/2023, Nguyễn Duy A rủ theo Trần Thanh P1 và Võ Tuấn H, Lương Vũ N, Nguyễn Khắc T5 đến kho xưởng của ông Trương Văn L2 để lấy trộm tài sản. Tuy nhiên trên đường đi, T5 bị hư đèn xe nên bỏ về, không tham gia nữa. Sau đó, Nguyễn Duy A, Võ Tuấn H, Lương Vũ N và Trần Thanh P1 lấy trộm các tài sản trong kho xưởng của ông Trương Văn L2 gồm: 01 bộ khung máy chà nhám vòng, màu xanh, kích thước (90x83,5x82,5)cm; 01 bộ mô tơ 3 pha 5HP, màu xám; 01 mô tơ Inducion, màu đen. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là: 7.200.000 đồng. Sau khi trộm được các tài sản trên, các bị cáo kéo về nhà Lương Hồng Đ để cất giấu.
Đến khoảng 06 giờ ngày 29/7/2023, Lương Hồng Đ ngủ dậy thấy các tài sản trên thì gọi điện hỏi Nguyễn Duy A, lúc này Duy A cho biết các tài sản trên vừa trộm được ở kho xưởng thuộc thôn H, xã T, thị xã L vào đêm 28/7/2023 rồi nhờ Đ trông giữ, khi nào rảnh thì kéo các tài sản trên về kho của Duy A để cất giấu thì Đ đồng ý. Đến khoảng 09 giờ ngày 29/7/2023, Lương Hồng Đ điều khiển xe mô tô kéo xe lôi chở các tài sản trên về cho Nguyễn Duy A tại kho hàng của Duy A thuộc khu phố A, phường P, thị xã L.
Vụ thứ năm: Vào khoảng 15 giờ ngày 30/7/2023, Võ Tuấn H nói cho Nguyễn Duy A biết về việc H và Trần Thanh P1 kéo xe lôi đến kho xưởng của ông Trương Văn L2 để trộm cắp tài sản. Do bận công việc nên Duy A nói H và P1 đi trộm trước, tối Duy A1 sẽ lên sau và cả ba thống nhất các tài sản trộm cắp được sẽ đưa cho Duy A1 để tiêu thụ. Đen 17 giờ cùng ngày, Võ Tuấn H rủ Trần Thanh P1 kéo theo xe lôi đến kho xưởng của ông L2 để trộm cắp tài sản; trên đường đi, H đến nhà Châu Ngọc S để mượn đèn pin. Lúc này S có hỏi H đi đâu thì H nói đi thăm bẩy rắn nên S xin đi theo thì được H đồng ý. Khi đến kho xưởng của ông L2, S thấy Trần Thanh P1 có kéo theo xe lôi nên hỏi lại H, lúc này H cho biết kéo theo xe lôi để trộm cắp tài sản trong kho xưởng thì S không đồng ý tham gia và nhờ H chở về. Sau đó, Võ Tuấn H điều khiển xe mô tô chở S về nhà và đi đổ xăng. Do lâu không thấy H quay lại, Trần Thanh P1 đã vào kho xưởng của ông L2 lấy trộm 01 bình khí Gas loại 37,1kg, màu xám; 01 máy bơm hơi hiệu Compressor, Modem F, 01 HP, 08kg, màu xanh bỏ lên xe lôi và chở về nhà Lương Hồng Đ rồi điều khiển xe mô tô đến kho của Nguyễn Duy A để kể cho Duy A và Đ nghe sự việc. Sau khi H đổ xăng xong, H kéo theo 01 xe lôi đến kho của ông L2 rồi lấy trộm 01 mô tơ không nhãn hiệu màu xám để lên xe mô tô rồi chở về nhà Lương Hồng Đ cất giấu, lúc này H để lại 01 xe lôi tại kho của ông Trương Văn L2. Lương Hồng Đ biết các tài sản Trần Thanh P1 và Võ Tuấn H để ở nhà mình là do trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là: 4.116.000 đồng.
Xét thấy: Bị cáo Nguyễn Duy A đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 50.961.000 đồng, bị cáo Lương Vũ N đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 88.545.000 đồng. Tổng tài sản mỗi bị cáo Nguyễn Duy A, Lương Vũ N chiếm đoạt trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Duy A, Lương Vũ N đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Trộm cắp tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo Võ Tuấn H có nhân thân xấu, tại Bản án 82/2019/HSST ngày 24/10/2019, Tòa án nhân dân thị xã La Gi đã áp dụng tình tiết “Tái phạm” đối với bị cáo. Sau khi chấp hành xong hình phạt, chua được xóa án tích mà bị cáo tiếp tục phạm tội mới do cố ý, nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Hành vi của bị cáo Võ Tuấn H đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Trộm cắp tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo Trần Thanh P1, Lương Hồng Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Trộm cắp tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Ngoài ra, bị cáo Lương Hồng Đ không tham gia trộm cắp tài sản vào ngày 28/7/2023 và ngày 30/7/2023 nhưng khi biết các tài sản là do phạm tội mà có, bị cáo vẫn đồng ý chứa chấp các tài sản này tại nhà của bị cáo. Hành vi của Lương Hồng Đ đã phạm vào tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự.
Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Duy A, Lương Vũ N, Võ Tuấn H, Trần Thanh P1, Lương Hồng Đ về các tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, để nhận thức rõ việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị nghiêm cấm, nhưng với bản tính tham lam, chây lười lao động, các bị cáo đã nhiều lần lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại như đã nêu trên. Hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự xem thường pháp luật, xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý mất an toàn trong quần chúng nhân dân.
Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, không tổ chức và phân công vai trò cụ thể của từng bị cáo. Đối với các vụ trộm cắp tài sản ngày 26/7/2023, 27/7/2023 và 28/7/2023, Nguyễn Duy A là người chủ mưu, rủ rê và cũng là người thực hành tích cực cùng với đồng phạm còn lại; Vụ trộm cắp tài sản ngày 30/7/2023, Võ Tuấn H là người rủ rê và cùng với Trần Thanh P1 là người thực hành tích cực, Nguyễn Duy A là người giúp sức. Bị cáo Lương Vũ N đã 03 lần trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 88.545.000 đồng; Bị cáo Võ Tuấn H sau khi chấp hành án, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Bị cáo Trần Thanh P1, Lương Hồng Đ khi được rủ rê thì tham gia tích cực. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà từng bị cáo đã gây ra.
Xét thấy, cần tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe giáo dục các bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Duy A 04 lần trộm cắp tài sản, Lương Vũ N 03 lần trộm cắp tài sản, Võ Tuấn H 03 lần trộm cắp tài sản, Trần Thanh P1 02 lần trộm cắp tài sản, Lương Hồng Đ 02 lần trộm cắp tài sản mà mỗi lần đều có giá trị trên 2.000.000 đồng, đều cấu thành tội trộm cắp tài sản độc lập. Bị cáo Lương Hồng Đ đã thực hiện 02 lần chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có. Vì vậy mỗi bị cáo đều phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn; Hoàn cảnh gia đình khó khăn; Tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi và trả lại cho bị hại; Bị cáo Võ Tuấn H đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản; Bị cáo Nguyễn Duy A, Lương Hồng Đ đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Duy A, Lương Hồng Đ. Do đó, khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo Lương Vũ N, Võ Tuấn H, Trần Thanh P1 được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Duy A, Lương Hồng Đ được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 xe lôi màu bạc xanh, kích thước (2,85x1,1x0,73) mét; 01 xe lôi màu nâu bạc, kích thước (02x01x0,43) mét là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với 01 đoạn ống nhựa màu trắng, được hàn kín, kích thước (1,4x2,4)cm, đã cắt lấy mẫu (trong quá trình giám định mẫu M) được niêm phong trong phong bì số 1017 của Phòng K1 Công an tỉnh B. Xét, đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, vật không còn giá trị cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với các vật chứng khác quá trình điều tra đã giải quyết xong, nên Hội đồng xét xử không xét.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Duy A đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại Trương Văn L2 số tiền 100.000.000 đồng, bị cáo Lương Hồng Đ đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại Trương Văn L2 số tiền 10.000.000 đồng. Ông L2 yêu cầu các bị cáo Lương Vũ N, Võ Tuấn H, Lương Hồng Đ, Trần Thanh P1 phải bồi thường khắc phục hậu quả số tiền 100.000.000 đồng, là chi phí ông L2 thuê người vận chuyển, sửa chữa hư hỏng, lắp đặt lại các máy móc bị trộm cắp. Yêu cầu của ông L2 là hợp lý, phù hợp thực tế, tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay ông L2 chưa cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh những chi phí ông trình bày. Tại đơn xin xét xử vắng mặt thì ông L2 không đề nghị HĐXX xem xét trách nhiệm dân sự của các bị cáo trong vụ án Hình sự này, mà sau khi sửa chữa máy móc sẽ yêu cầu các bị cáo bồi thường bằng một vụ án dân sự khác. Do đó, HĐXX dành quyền khởi kiện vụ án dân sự cho ông Trương Văn L2 khi có tài liệu, chứng cứ chứng minh các chi phí thuê người vận chuyển, sửa chữa hư hỏng, lắp đặt lại các tài sản bị trộm cắp từ vụ án hình sự này.
Bà Trương Thị Tl, ông Lương Văn Đ1 không yêu cầu các bị cáo thanh toán lại số tiền ông, bà đã bỏ ra để bồi thường cho bị hại. Xét đây là sự tự nguyện của bà T1, ông Đ1 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[8] Hành vi của Châu Ngọc S, Nguyễn Khắc T5 chưa cấu thành tội phạm nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã L không xử lý là phù hợp.
Hành vi Nguyễn Duy A tàng trữ 0,0498 gam Methamphetamine để sử dụng cho bản thân, chưa đủ cấu thành tội phạm nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã L không xử lý hình sự mà xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy A, Lương Vũ N, Võ Tuấn H, Trần Thanh P1 phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo Lương Hồng Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.
[2] Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 173; Điểm b, Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy A 02 (Hai) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 31/7/2023.
[3] Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 173; Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lương Vũ N 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 05/9/2023.
[4] Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173; Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Võ Tuấn H 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 01/9/2023.
[5] Áp dụng: khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh P1 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 31/7/2023.
[6] Áp dụng: khoản 1 Điều 173; Khoản 1 Điều 323; Điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17, Điều 58, Điều 55 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lương Hồng Đ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 (Một) năm tù về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Tổng hợp hình phạt chung cho hai tội, buộc bị cáo Lương Hồng Đ phải chấp hành hình phạt tù chung cho hai tội là 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 31/7/2023.
[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng: Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với 01 xe lôi màu bạc xanh và 01 xe lôi màu nâu bạc.
Tịch thu tiêu hủy đối với phong bì số 1017 của Phòng K1 Công an tỉnh B.
Các vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã L, có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/10/2023 giữa Cơ quan CSĐT công an thị xã L và Chi cục thi hành án dân sự thị xã La Gi.
[8] Về dân sự: Áp dụng Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự.
Dành quyền khởi kiện vụ án dân sự cho ông Trương Văn L2 khi có tài liệu, chứng cứ chứng minh các chi phí thuê người vận chuyển, sửa chữa hư hỏng, lắp đặt lại các tài sản bị trộm cắp từ vụ án hình sự này.
[9] Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo Nguyễn Duy A, Lương Vũ N, Võ Tuấn H, Trần Thanh P1, Lương Hồng Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[10] Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đối với bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Bản án về tội trộm cắp tài sản số 138/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 138/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thị Xã La Gi - Bình Thuận |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 08/12/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về