TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
BẢN ÁN 133/2023/HS-ST NGÀY 30/09/2023 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Ngày 30 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 91/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2022/QĐXXST–HS ngày 07 tháng 8 năm 2023; Thông báo mở lại phiên tòa số 91/TB-TA ngày 15/9/202; Quyết định hoãn phiên toà số 91/2023/QĐST–HS ngày 15 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Tiến L ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Lê Sức L; Sinh ngày 31 tháng 7 năm 1991. Tại: tỉnh N; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: 0220X02021cấp ngày 05 tháng 4 năm 2022. Nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH; Nơi thường trú: Thác Bưởi 1, xã T, huyện Y, tỉnh N; Nơi tạm trú: Không; Nơi ở hiện tại: Tổ 7 thị trấn Q, huyện M, thành phố H. Con ông: Lê Văn C (sinh năm 1968) và bà: Hà Thị H (sinh năm 1971). Gia đình bị cáo có 02 anh em bị can là con thứ nhất. Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: 04 + Ngày 10/3/2016, Lê Tiến L bị TAND huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999 (bản án số 02 ngày 10/3/2016). Chấp hành xong án phạt tù ngày 04/11/2016.
+ Ngày 16/3/2018: Lê Tiến L bị TAND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên xử phạt 02 năm tù giam về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999 (bản án số 10 ngày 16.3.2018) . Ngày 15/5/2018: bị TAND quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 27 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản và Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tổng hợp bản án số số 10 ngày 16.3.2018 gọi chung là bản bản án số 12/15.5.2018. Tổng hợp phải chấp hành 51 tháng tù. Chấp hành xong án phạt tù ngày 05 tháng 9 năm 2021.
+ Ngày 12/7/2023, TAND quận Đống Đa, TP. Hà Nội xử phạt 32 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS (bản án số 196 ngày 12/7/2023). Án đã có hiệu lực pháp luật.
Nhân thân:
+ Ngày 24/9/2009: Lê Tiến L bị TAND Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninhxử phạt 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 BLHS (bản án số 24 ngày 24.9.2009). Chấp hành xong ngày 27/12/2009.
+ Ngày 18/01/2011: L bị TAND Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 01 năm 03 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 BLHS (bản án số 03 ngày 18.01.2011). Chấp hành xong ngày 10/2/2012.
+ Ngày 02/4/2013, L bị đưa vào Cơ sở giáo dục bắt buộc theo Quyết định số: 814/QĐ-UB (NC) ngày 29/3/2013 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh với thời hạn 24 tháng về hành vi Trộm cắp tài sản.
+ Ngày 17/5/2023, L bị Cơ quan cảnh sát điều tra huyện Phú Lương, Tỉnh Thái Nguyên ra Quyết định khởi tố bị can số 66. Tại bản án số 52/2023/HSST ngày 15/8/2023 , TAND huyện Phú Lương, Tỉnh Thái Nguyên xử phạt 48 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS. Án chưa có hiệu lực pháp luật (BC kháng cáo) + Ngoài ra Lê Tiến L có hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 01 chiếc xe mô tô BKS 92D1-X của chị Trần Thị Yến N xảy ra tại phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng vào ngày 09/8/2022, hiện Công an quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng đang thụ lý giải quyết. (Bút lục 25-26) Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng
- Người bị hại: Chị Trần Thị Yến N – sinh năm: 2004. Nơi ĐKHKTT:
Thôn T, xã Q, huyện B, tỉnh Q. Chỗ ở hiện nay: K781/09 Trần Cao V, phường K, quận K, thành phố Đ. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có tình cảm với nhau nên vào khoảng đầu tháng 12 năm 2022, Lê Tiến L gặp và sống chung với chị Trần Thị Yến N (Sinh năm: 2004, HKTT: xã Q, huyện B, tỉnh Q) tại phòng trọ K751/09 đường Trần Cao V, phường K, quận K, thành phố Đ. Đến sáng ngày 09/12/2022, L nảy sinh ý định lấy cắp máy tính của N để trong phòng trọ, nên khi chở N đi học, L nói dối N đưa chìa khóa để về phòng trọ ngủ. Sau đó L về phòng trọ của chị N lấy cắp chiếc máy tính xách tay hiệu HP Probook 440 G9 của chị N để trong phòng trọ rồi đón xe bỏ trốn. Sau khi bị mất máy tính, chị N đã đến trình báo sự việc tại Công an phường Hòa Khê, quận Thanh Khê vào ngày 10.12.2022. Chị N vẫn thường xuyên liên lạc với L qua tài khoản Zalo và L thừa nhận có lấy chiếc máy tính của N. Đến ngày 15.12.2022, chị N nói với L muốn xin lại chiếc máy tính thì L nói chị N chuyển 5.000.000 đồng cho L thì L sẽ gửi trả lại máy tính, nhưng chị N nói hiện không có đủ tiền thì L nói N không có thì chuyển cho L 3.000.000đồng, rồi xuống 1.000.000đồng. Để tạo lòng tin, L cho chị N nhìn thấy chiếc máy tính qua cuộc gọi video call, sau khi thấy chiếc máy tính của mình do L đang giữ nên chị N đã chuyển khoản cho L số tiền 1.000.000đồng. Sau khi nhận được tiền L nhắn tin sẽ gửi máy tính cho chị N vào 23 giờ cùng ngày. Sau đó thì L rút tiền tiêu xài hết rồi cắt liên lạc với chị N. L khai nhận trên đường bỏ trốn, L đã bán chiếc máy tính trên cho một tiệm mua bán máy tính cũ không rõ tên, địa chỉ ở tỉnh B được 5.000.000 đồng rồi trốn ra thành phố H. (Bút lục: 39-65, 78-94,123-129);
*Tại Bản kết luận định giá tài sản ngày 03/02/2023 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng quận K kết luận: “01 máy tính xách tay hiệu HP Probook 440 G9, màu xám bạc là tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án có giá trị: 16.200.000 đồng”. (Bút lục 68-69) *Về dân sự: Bị hại chị Trần Thị Yến N yêu cầu Lê Tiến L bồi thường số tiền 20.000.000đồng. (Bút lục: 90-91) Tại bản cáo trạng số 91/CT-VKS-TK ngày 03 tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Lê Tiến L về tội “Trộm cắp tài sản” và tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 và điểm b khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên toàn bộ nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: đề nghị HĐXX tuyên buộc bị cáo Lê Tiến L về tội “Trộm cắp tài sản” và tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
- Về hình phạt:
+ Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo từ 3 năm đến 04 năm tù.
+ Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của hai tội danh trong cùng vụ án.
- Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình tổng của bản án này và với hình phạt 32 tháng tù tại Bản án hình sự số 196/2023/HSST ngày 12/7/2023 của Tòa án nhân dân quận Đ, TP. H Buộc bị cáo Lê Tiến L chấp hành hình phạt chung của 2 bản án.
- Về xử lý vật chứng: chiếc máy tính xách tay hiệu HP Probook 440 G9 của chị N không thu giữ được nên không đề cập xử lý.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Trần Thị Yến N yêu cầu Lê Tiến L bồi thường số tiền 20.000.000đồng.Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất bồi thường cho chị N số tiền 20.000.000đồng nên đề nghị HĐXX chấp nhận.
- Về án phí bị cáo Lê Tiến L chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo Lê Tiến L nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận K, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Tiến L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào ngày 09/12/2022, tại K751/09 Trần Cao Vân, phường Hòa Khê , quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng Lê Tiến L đã có hành vi trộm của chị Trần Thị Yến N 01 chiếc máy tính xách tay hiệu HP Probook 440 G9, màu xám bạc có giá trị là 16.200.000đồng. Đến ngày 15/12/2022, lợi dụng lòng tin của chị N và hứa sẽ trả lại chiếc máy tính đã trộm cắp nên L đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt của chị N số tiền 1.000.000đồng nhưng không trả lại chiếc máy tính mà bán kiếm tiền tiêu xài. Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Tiến L đã phạm về tội “Trộm cắp tài sản” và tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 và điểm b khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 91/CT-VKS-TK ngày 03 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Lê Tiến L về tội “Trộm cắp tài sản” và tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo Lê Tiến L thực hiện hành vi trộm cắp một chiếc máy tính xách tay hiệu HP Probook 440 G9 có giá trị 16.200.000đồng và lừa đảo chiếm đoạt của bị hại 1.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo Lê Tiến L là người trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khỏe để tham gia lao động kiếm sống nhưng bị cáo lại lười lao động, liên tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác lấy tiền tiêu xài cho mục đích cá nhân. Hành vi của bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an xã hội tại địa phương nên cần xét xử nghiêm minh để răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và quyết định hình phạt:
Bị cáo có 4 tiền án về hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác cụ thể: Tại bản án số 02/2016/HSST ngày 10/3/2016, TAND huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong án phạt tù ngày 04/11/2016, chưa được xóa án tích; Tại bản án số 10/2017/HSST ngày Ngày 16/3/2018, Lê Tiến L bị TAND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên xử phạt 02 năm tù giam về tội Trộm cắp tài sản; Tại bản án số 120/2018/HSST ngày 15/5/2018 bị TAND quận Nam Từ Liên, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù giam về tội "Trộm cắp tài sản" và 21 tháng tù về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" tổng hợp hình phạt của bản án số 10 ngày 16.3.2018 gọi chung là bản bản án số 120/2018HSST/15.5.2018. Tổng hợp phải chấp hành 51 tháng tù. Chấp hành xong án phạt tù ngày 05 tháng 9 năm 2021, chưa xóa án tích;
Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 24/9/2009: Lê Tiến L bị TAND Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 BLHS (bản án số 24 ngày 24.9.2009). Chấp hành xong ngày 27/12/2009; Ngày 18/01/2011: Lực bị TAND huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 01 năm 03 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 BLHS (bản án số 03 ngày 18.01.2011). Chấp hành xong ngày 10/2/2012; Ngày 02/4/2013, L bị đưa vào Cơ sở giáo dục bắt buộc theo Quyết định số: 814/QĐ- UB (NC) ngày 29/3/2013 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh với thời hạn 24 tháng về hành vi Trộm cắp tài sản; Ngày 15/8/2023, TAND huyện Phú Lương, Tỉnh Thái Nguyên xử phạt 48 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS (bản án số 52 ngày 15/8/2023). Án chưa có hiệu lực pháp luật (BC kháng cáo); Ngày 02/4/2013, L bị đưa vào Cơ sở giáo dục bắt buộc theo Quyết định số: 814/QĐ-UB (NC) ngày 29/3/2013 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh với thời hạn 24 tháng về hành vi Trộm cắp tài sản. Ngoài ra Lê Tiến L có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 01 chiếc xe mô tô BKS 92D1-X của chị Trần Thị Yến N xảy ra tại phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng vào ngày 09/8/2022, hiện Công an quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng đang thụ lý giải quyết.
Như vậy, bị cáo vừa có nhân thân xấu vừa có nhiều tiền án về hành vi chiếm đoạt tài sản của nhiều người, chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 và điểm b khoản 1 Điều 147 BLHS. Tuy nhiên, xét quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLH. Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng và nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một khoảng thời gian tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo để bị cáo nhận thức được hành vi của mình, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.
[5] Xét bị cáo L phạm nhiều tội trong cùng vụ án và bản án hình sự sơ thẩm số 196/2023/HSST ngày 12/7/2023 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, TP. Hà Nội có hiệu lực pháp luật nên HĐXX áp dụng Điều 55, 56 BLHS tổng hợp hình phạt. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung theo quy định pháp luật.
[6] Về xử lý vật chứng:
Chiếc máy tính xách tay hiệu HP Probook 440 G9 của bị hại không thu giữ được nên không xem xét xử lý vật chứng.
[7] Về phần dân sự: Bị hại chị Trần Thị Yến N yêu cầu Lê Tiến L bồi thường số tiền 20.000.000đồng. Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất bồi thường cho chị N số tiền 20.000.000đồng nên HĐXX chấp nhận
[8] Các vấn đề khác: không có
[9] Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án bị cáo Lê Tiến Lực phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
[10] Theo những nhận định như trên Hội đồng xét xử chấp nhận luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Tiến L đã phạm vào tội “Trộm căp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” - Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Tiến L 3 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Tiến L 01 (một) năm tù.
- Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt nhiều tội trong cùng vụ án: Buộc bị cáo Lê Tiến L chấp hành hình phạt chung của tội "Trộm cắp tài sản" và tội "Lừa đảo chiếm đoạt tại sản" là 4 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt 32 tháng tù tại Bản án số 196/2023/HSST ngày 12/7/2023 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, TP Hà Nội.
Buộc bị cáo Lê Tiến L chấp hành hình phạt chung của 2 bản án là 07 (bảy) năm 02 (hai) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/03/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo trả cho chị Trần Thị Yến N số tiền 20.000.000đồng (hai mươi triệu đồng). Cho đến khi thanh toán xong nghĩa vụ nếu người được thi hành án có đơn yêu cầu mà người phải thi hành án không thi hành thì phải trả khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 248 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí: Bị cáo Lê Tiến L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 1.000.000đồng 4. Về thời hạn kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 30/9/2023; Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án về tội trộm cắp tài sản số 133/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 133/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Quận Thanh Khê - Đà Nẵng |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 30/09/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về