Bản án về tội trộm cắp tài sản số 13/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 13/2024/HS-ST NGÀY 27/02/2024 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 27 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Bị cáo Cao Văn C, tên gọi khác: không; sinh ngày 20 tháng 6 năm 1992 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm P, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn T (đã chết) và bà Phan Thị T1; có vợ là Phan Thị H và có 02 người con, lớn nhất 08 tuổi, nhỏ nhất 02 tuổi.

Tiền sự: Không;

Tiền án: Ngày 28/7/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự tại Bản án số 70/2020/HSST; chấp hành xong hình phạt ngày 01/01/2021. Ngày 30/8/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự tại Bản án số 107/2022/HSST. Chấp hành xong hình phạt ngày 21/3/2023.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/11/2023 đến ngày 26/02/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N.

2. Bị cáo Nguyễn Vĩnh V, tên gọi khác: không; sinh ngày 11 tháng 01 năm 1993 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: xóm P, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Vĩnh H1 (đã chết) và bà Lê Thị C1; có vợ là Nguyễn Thị L và có 01 người con 03 tuổi; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/11/2023 đến ngày 08/12/2023, sau đó bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/12/2023 đến ngày 08/02/2024.

- Bị hại:

1) Ông Cù Trọng C2, sinh năm 1968, nơi cư trú: xóm N, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An ( vắng mặt).

2) Chị Trần Thị Khánh H2, sinh năm 1996, nơi cư trú: xóm D, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1) Anh Trần Bá H3, sinh năm 1988, nơi cư trú: xóm Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).

2) Ông Nguyễn Đức D, sinh năm 1984, nơi cư trú: xóm E, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 26/11/2023, Nguyễn Vĩnh V sử dụng xe mô tô Dream màu đen Biển kiềm soát 37H3 05xx (xe mượn của ông Nguyễn Vĩnh T2, sinh năm 1964, trú tại xóm P, Xã M, huyện Y) chở Cao Văn C đến nhà bố mẹ vợ của V ở xã D, huyện D để chơi. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, cả hai cùng ra về. Khi đi về đến gần nhà ông Cù Trọng C2, sinh năm 1968, trú tại xóm N, xã V, huyện Y, V biết nhà ông C2 thường xuyên không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp. Lúc này, V nói với C: “Tau mới sửa xe ở đây hết hai trăm nghìn, quán ni không có người trông coi mổ”. C hiểu ý V rủ mình trộm cắp tài sản nên nói: "Mi dừng xe lại đề tau vô xem có cái chi lấy không". V dừng xe, đứng ngoài đường cảnh giới, còn C đi vào trong quán nhà ông C2, trộm cắp 01 (một) máy hàn điện màu đỏ, 01 (một) túi ni lông bên trong chứa 15 (mười lăm) cuộn nhựa cuốn sợi dây đông đưa ra xe mô tô. Sau đó, V điều khiển xe chở C và tài sản vừa trộm cắp được đi đến cửa hàng Đ ở tại xóm M, xã N của anh Trần Bá H3, sinh năm 1988, trú tại xóm Đ, xã T, huyện Y bán với giá 1.500.000 đồng. Số tiền này V và C chia nhau mỗi người 750.000 đồng rồi tiêu xài hết.

Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 28/11/2023, Nguyễn Vĩnh V sử dụng xe mô tô Honda Wave Alpha màu đỏ BKS 37K7 47xx (xe của V) chở Cao Văn C đi từ xã N, huyện Y đến nhà bố mẹ vợ của V ở xã D, huyện D để mượn tiền. Khi đi đến ngã ba chợ Bông thuộc xóm F xã B, huyện Y thì C nói V dừng xe để C mua thuốc lá. Tại đây, C phát hiện quán sửa chữa điện dân dụng của chị Trần Thị Khánh H2, sinh năm 1996, trú tại xóm D, xã B, huyện Y không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. C đi ra nói với V: "Mi đứng đây chờ tau, để tau vô đây coi có chi lấy không để ta bán". V hiểu ý C rủ mình trộm cắp nên đồng ý và đứng ngoài cảnh giới, còn C đi vào quán trộm cắp 02 (hai) bao tải dựng sợi dây đồng. Sau đó, V chở C cùng 02 (hai) bao tải nói trên đi đến điểm thu mua sát vụn ở chợ R thuộc xóm E, xã T, huyện Y của anh Nguyễn Đức D, sinh năm 1984, trú tại xóm E, xã B, huyện Y.

Sau khi cân được 29 kg (hai mươi chín kilogam) sợi dây đồng, cả hai bán cho anh D với giá 5.000.000 đồng, số tiền này V và C chia nhau mỗi người 2.500.000 đồng rồi tiêu xài hết.

Ngày 29/11/2023, Nguyễn Vĩnh V và Cao Văn C đến Công an xã B, huyện Y xin đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 49/KL-HĐĐGTS ngày 05/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Y, kết luận:

"- 15 (mười lăm) cuộn sợi dây đồng có tổng khối lượng 3,9 kg (ba phẩy chín kilogam), một cuộn gồm sợi dây đồng được cuốn nhiều vòng quanh ống nhựa hình trụ, trong đó khối lượng dây đồng là 3kg (ba kilogam), tổng khối lượng hình trụ là 0,9 kg (không phẩy chín kilogam), đã qua sử dụng, giá trị tại thời điểm 26/11/2023 là 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

- 01 (một) máy hàn điện nhãn hiệu Kobe Mig 312 Pro màu đỏ, có gắn 03 (ba) dây hàn, mỗi dây dài 03m (ba mét), đã qua sử dụng, giá trị tại thời điểm 26/11/2023 là 2.160.000 đồng (hai triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng).

- 29 kg (hai chín kilogam) sợi dây đồng đã qua sử dụng, thời điểm ngày 28/11/2023 có giá trị 6.380.000 đồng (Sáu triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng) (Bút lục 89) Như vậy, Cao Văn C và Nguyễn Vĩnh V đã cùng nhau thực hiện 02 hành vi trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản trộm cắp là 9.290.000 đồng (chín triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng).

* Việc thu giữ vật chứng:

Khi Cao Văn C và Nguyễn Vĩnh V đầu thú, Công an xã B, huyện Y đã thu giữ các tang vật sau:

- 01 (một) chiếc xe mô tô nhăn hiệu Honda Wave Alpha màu đỏ BKS 37K7 47xx và 01 (một) điện thoại di động Nokia 105 màu đen gắn sim số 09653671xx do Nguyễn Vĩnh V giao nộp;

- 01 (một) điện thoại Samsung J7 Prime màu trắng sữa do Cao Văn C giao nộp.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã thu giữ:

-15 (mười lăm) cuộn sợi dây đồng có tổng khối lượng 3,9kg (ba phẩy chín kilogam) đã qua sử dụng.

- 01 (một) máy hàn điện nhãn hiệu Kobe Mig 312 Pro, màu đỏ có gắn 03 (ba) dây hàn, mỗi dây dài 03 m (ba mét) đã qua sử dụng.

- 01 (một) bao tải trắng bên trong có chứa sợi dây đồng có tổng khối lượng 29 kg (hai mươi chín kilogam) đã qua sử dụng.

* Xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra Công an huyện Y đã trả lại 15 (mười lăm) cuộn sợi dây đồng có tổng khối lượng 3,9kg (ba phẩy chín kilogam) và 01 (một) máy hàn điện cho ông Cù Trọng C2; trả lại 29kg (hai mươi chín kilogam) sợi dây đồng cho chị Trần Thị Khánh H2; trả lại 01 (một) điện thoại di động Nokia 105 màu đen gắn sim số 096.53671xx cho Nguyễn Vĩnh V; trả lại 01 (một) điện thoại Samsung J7 Prime màu trắng sữa cho Cao Văn C.

Đối với chiếc xe mô tô nhăn hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ BKS 37K7 47xx đang được bảo quản tại tại kho vật chứng Công an huyện Y chờ xử lý theo quy định pháp luật.

* Về phần dân sự:

- Các bị hại là ông Cù Trọng C2 và chị Trần Thị Khánh H2 đã nhận lại toàn bộ tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu bồi thường về dân sự.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Trân Bá H4 không yêu cầu bồi thường về dân sự.; Anh Nguyễn Đức D yêu cầu Cao Văn C và Nguyễn Vĩnh V bồi thường số tiền 5.000.000 đồng, số tiền này Cao Văn C và Nguyễn Vĩnh V chưa bồi thường cho anh D.

Cáo trạng số: 18/VKS-HS ngày 06/02/2024 của VKSND huyện Yên Thành, Nghệ An truy tố bị can Cao Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và bị can Nguyễn Vĩnh V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử :

- Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Cao Văn C từ 27 tháng đến 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” .

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Nguyễn Vĩnh V từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” . Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 29/11/2023 đến ngày 08/12/2023.

- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo.

- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 588, 123 của Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Cao Văn C, Nguyễn Vĩnh V có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Đức Danh S tiền 5.000.000 đồng.

- Vật chứng: Căn cứ khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu hóa giá nộp Ngân sách Nhà nước: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ BKS 37K7 47xx (đã qua sử dụng).

- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Cao Văn C, Nguyễn Vĩnh V phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Các bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát.

Các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên; Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội các của bị cáo: Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo Cao Văn C và Nguyễn Vĩnh V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Có cơ sở kết luận:

- Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 26/11/2023, tại xóm N, xã V, huyện Y, C và V đã trộm cắp 01 (một) máy hàn điện nhãn hiệu Kobe Mig 312 Pro màu đỏ, giá trị 2.160.000 đồng và 15 (mười lăm) cuộn sợi dây đồng có tổng khối lượng 3,9 kg (ba phẩy chín kilogam) giá trị 750.000 đồng của ông Cù Trọng C2, sinh năm 1968, trú tại xóm N, xã V, huyện Y.

- Khoảng 12 giờ 30 phút Ngày 28/11/2023, tại xóm F, xã B, huyện Y, C và V đã trộm cắp 29 kg (hai chín kilogam) sợi dây đồng, giá trị 6.380.000 đồng của chị Trần Thị Khánh H2, sinh năm 1996, trú tại xóm D, xã B, huyện Y.

Tổng giá trị 02 lần trộm cắp tài sản là 9.290.000 đ (chín triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng) Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội. Các bị cáo là người có khả năng nhận thức và điều khiến hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng đã cố ý, lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại. Hành vi của bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự . Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

[3] Các tình tiết định khung hình phạt, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Cao Văn C:

về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo Cao Văn C thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản với tổng giá trị 9.290.000 đồng (Chính triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng). Tuy nhiên tại bản án số 107/2022/HS-ST ngày 30/8/2022 bị cáo Cao Văn C bị xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp tái phạm nhưng chưa xóa án tích bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội. Do đó hành vi của bị cáo Cao Văn C thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” là tình tiết tăng nặng định khung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện các hành vi phạm tội vào ngày 26/11/2023 và ngày 28/11/2023; đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điềm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Cao Văn C trong quá trình điều tra, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ Cao Văn T là liệt sỹ. Đồng thời, bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đã chủ động đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Các tình tiết định khung hình phạt, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Nguyễn Vĩnh V:

Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo Nguyễn Vĩnh V chiếm đoạt 9.290.000 đồng (Chín triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng) thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Vvề tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện các hành vi phạm tội vào ngày 26/11/2023 và ngày 28/11/2023; đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Vĩnh V trong quá trình điều tra, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đồng thời, bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đã chủ động đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập thấp, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

+ Quá trình điều tra, cơ quan điều tra Công an huyện Y đã trả lại 15 (mười lăm) cuộn sợi dây đồng có tổng khối lượng 3,9kg (ba phẩy chín kilogam) và 01 (một) máy hàn điện cho ông Cù Trọng C2; trả lại 29kg (hai mươi chín kilogam) sợi dây đồng cho chị Trần Thị Khánh H2; trả lại 01 (một) điện thoại di động Nokia 105 màu đen gắn sim số 096.53671xx cho Nguyễn Vĩnh V; trả lại 01 (một) điện thoại Samsung J7 Prime màu trắng sữa cho Cao Văn C là đúng quy định pháp luật.

+ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ BKS 37K7 47xx là phương tiện phạm tội cần bán hóa giá để nộp ngân sách nhà nước.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

+ Các bị hại là ông Cù Trọng C2, chị Trần Thị Khánh H2 và ngưởi có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Bá H3 không yêu cầu về bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

+ Ngưởi có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đức D yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 5.000.000 đồng - là số tiền ông D đã mua 29 đồng dây. Nhưng đến nay các bị cáo vẫn chưa bồi thường.

[8] Đối với anh Trần Bá H3 và anh Nguyễn Đức D, là những người đã mua tài sản các bị can trộm cắp mà có, tuy nhiên khi mua thì anh Trần Bá H3 và anh Nguyễn Đức D đều không biết đây là những tài sản do trộm cắp mà có nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đối với ông Nguyễn Vĩnh T2, là người cho Nguyễn Vĩnh V mượn chiếc xe mô tô Dream màu đen Biển kiềm soát 37H3 05xx cùng Cao Văn C đi trộm cắp tài sản ngày 26/11/2023. Do ông T2 không biết việc V dùng xe để thực hiện hành vi phạm tội nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

[9] Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, 17, 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Cao Văn C 30 ( Ba mươi) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” . Thời hạn tù tính từ ngày 29/11/2023.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, 17, 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Nguyễn Vĩnh V 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 29/11/2023 đến ngày 08/12/2023.

- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 588, 123 của Bộ luật Dân sự.

Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Đức D.

Buộc bị cáo Cao Văn C, Nguyễn Vĩnh V mỗi bị cáo có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Đức Danh S tiền 2.500.000đ ( Hai triệu, năm trăm nghìn đồng) bán tài sản.

- Vật chứng: Căn cứ khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu hóa giá nộp Ngân sách Nhà nước: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ BKS 37K7 47xx (đã qua sử dụng).

(Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thành quản lý ngày 22/02/2023).

- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Cao Văn C, Nguyễn Vĩnh V mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm và 300.000đ ( Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

- Thi hành án và nghĩa vụ chậm thi hành án:

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án ( đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kề từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kề từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

127
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội trộm cắp tài sản số 13/2024/HS-ST

Số hiệu:13/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Thành - Nghệ An
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:27/02/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về