TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
BẢN ÁN 119/2023/HS-ST NGÀY 12/12/2023 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Ngày 12 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 108/2023/HSST ngày 07 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn B, sinh ngày 17/9/1979; quê quán: huyện T, tỉnh N; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố 3, phường 2, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; đoàn thể: không; con ông: Nguyễn Quang H và bà Nguyễn Thị Bích H1; Vợ: Hoàng Thị Xuân P; Con:
có 02 người con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 06/9/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Phạm Ngọc K, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ dân phố X, thị trấn P, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 5/2023, Nguyễn B đến làm việc tại xưởng sửa chữa ô tô Huấn K, thuộc Tổ dân phố X, thị trấn P, huyện B, tỉnh Quảng Bình do ông Phạm Ngọc K làm chủ xưởng. Do có mâu thuẫn trong việc thanh toán tiền công lao động với ông K nên B nảy sinh ý định lấy trộm một số tài sản của xưởng để trừ nợ. Khoảng 00 giờ ngày 22/6/2023, B đi quanh xưởng lấy trộm 01 máy đánh bóng nhãn hiệu TIEDAO, màu đỏ đen, 01 máy mài nhãn hiệu DCA loại ASM05-100B, màu xanh đen, 01 súng phun sơn nhãn hiệu W71, màu trắng sữa, 01 thanh chà nhám không rõ nhãn hiệu, 01 máy chà nhám nhãn hiệu Prima, màu trắng, vàng đen, đều đã qua sử dụng. B cất toàn bộ tài sản lấy trộm vào trong một túi xách rồi đặt lên xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 74C1-xxxx đi ra khỏi xưởng rồi điều khiển chở về nhà tại Khu phố 3, phường 2, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị cất giấu. Ngày 30/6/2023, ông K đến nhà hỏi B việc lấy trộm tài sản, B thừa nhận việc mình lấy trộm số tài sản trên. Ngày 04/7/2023, B chở toàn bộ tài sản đã lấy trộm đến nhà anh K trả lại nhưng anh K không nhận. Cùng ngày 04/7/2023, công an thị trấn Phong Nha yêu cầu B đến trụ sở để làm việc và B đã tự nguyện giao nộp toàn bộ số tài sản đã chiếm đoạt.
Kết luận định giá tài sản số 35/KL-HĐĐGTS ngày 15/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bố Trạch: 01 máy đánh bóng nhãn hiệu TIEDAO, trị giá 1.900.000 đồng; 01 máy mài nhãn hiệu DCA loại ASM05-100B, trị giá 1.000.000 đồng; 01 súng phun sơn nhãn hiệu W71, trị giá 1.495.000 đồng; 01 thanh chà nhám không rõ nhãn hiệu, trị giá 205.000 đồng;
01 máy chà nhám nhãn hiệu Prima, trị giá 1.300.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Nguyễn B đã chiếm đoạt của ông Phạm Ngọc K là 5.900.000 đồng.
Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch đã thu giữ và trả lại cho bị hại anh Phạm Ngọc K: 01 máy đánh bóng nhãn hiệu TIEDAO, màu đỏ đen, 01 máy mài nhãn hiệu DCA loại ÁM05-100B, màu xanh đen, 01 súng phun sơn nhãn hiệu W71, màu trắng sữa, 01 thanh chà nhám không rõ nhãn hiệu, 01 máy chà nhám nhãn hiệu Prima, màu trắng, vàng đen. Tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 74C1-xxxx, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 016734, do công an Quảng Trị cấp ngày 30/11/2015, mang trên Nguyễn B, 01 túi xách mùa xanh, dạng vải dù, trên bề mặt có ký hiệu “KITI Bags”, hiện chưa xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về mặt dân sự.
Tại Bản cáo trạng số 110/CT-VKSBT ngày 06/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch đã truy tố bị cáo Nguyễn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 07 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 74C1-xxxx và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 016734, do công an Quảng Trị cấp ngày 30/11/2015, mang trên Nguyễn B, tịch thu tiêu huỷ 01 túi xách màu xanh, dạng vải dù, trên bề mặt có ký hiệu “KITI Bags”; Về trách nhiệm dân sự: không xem xét; Về án phí và quyền kháng cáo: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và tuyên quyền kháng cáo theo quy định.
Tại phiên tòa, Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nhất trí với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin hứa sẽ không tái phạm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tại tại địa phương để có điều kiện làm ăn, chăm sóc con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về tội danh: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và vật chứng đã thu giữ, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 00 giờ ngày 22/06/2023, tại xưởng sửa chữa ô tô Huấn Kha, địa chỉ tại TDP Xuân Sơn, thị trấn Phong Nha, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, Nguyễn B đã lén lút lấy trộm của ông Phạm Ngọc K 01 máy đánh bóng nhãn hiệu TIEDAO, màu đỏ đen;
01 máy mài nhãn hiệu DCA loại ASM05-100B, màu xanh đen; 01 súng phun sơn nhãn hiệu W71, màu trắng sữa; 01 thanh chà nhám không rõ nhãn hiệu; 01 máy chà nhám nhãn hiệu Prima, màu trắng, vàng đen, đều đã qua sử dụng. Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định trị giá tổng số tài sản bị cáo đã lấy trộm là 5.900.000 (Năm triệu chín trăm nghìn đồng). Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện thấy: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, trình độ học vấn 12/12 nên hoàn toàn nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong việc thực hiện cam kết trả lương và ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo đã cố ý chiếm đoạt trái pháp luật tài sản của người khác nhằm thỏa mãn ý định của bản thân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự, trị an xã hội. Vì vậy, cần có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại có giá trị không lớn; mẹ ruột của bị cáo là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự khi lượng hình đối với bị cáo.
[5] Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng: bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách giản đơn, là tội phạm ít nghiêm trọng, tài sản bị chiếm đoạt có giá trị không lớn; sau khi tội phạm bị phát hiện, bị cáo đã trả lại tài sản cho bị hại để khắc phục hậu quả do mình gây ra. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo tỏ ra rất thành khẩn và ân hận về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cũng đủ sức răn đe, giáo dục và cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Vì vậy, cần áp dụng Điều 36 của Bộ luật hình sự áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là phù hợp với tính chất và mà độ nguy hại cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
Về khấu trừ thu nhập: Xét bị cáo hiện là người không có nghề nghiệp tạo thu nhập ổn định lại đang phải nuôi 02 con nhỏ nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo là phù hợp.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là không cần thiết nên chấp nhận ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên để miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.
[8] Về xử lý vật chứng: Xét các vật chứng đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch xử lý trong quá trình điều tra là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét lại. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 74C1-xxxx và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 016734, do công an Quảng Trị cấp ngày 30/11/2015, mang tên Nguyễn B, quá trình điều tra xác định đây là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo và bị cáo đã dùng phương tiện này vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp. Đối với 01 túi xách màu xanh, dạng vải dù, trên bề mặt có ký hiệu “KITI Bags” không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước. Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về điều luật áp dụng: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 36; khoản 1 Điều 47; các điểm b, i, h, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn B 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi bị cáo cư trú nhận được Quyết định thi hành án.
Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn B.
Giao bị cáo cho Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phối hợp với UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Bị cáo Nguyễn B phải thực hiện những nghĩa vụ về chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định tại Luật thi hành án hình sự.
4. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn B.
5. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 74C1-xxxx đã qua sử dụng và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 016734, do Công an Quảng Trị cấp ngày 30/11/2015, mang tên Nguyễn B.
Tịch thu tiêu hủy 01 túi xách màu xanh, dạng vải dù, trên bề mặt có ký hiệu “KITI Bags”.
Các vật chứng hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bố Trạch và có đặc điểm được mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng được lập giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Bố Trạch với Chi cục thi hành án dân sự huyện Bố Trạch ngày 13/11/2023.
6. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
7. Về án phí: xử buộc bị cáo Nguyễn B phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Bản án về tội trộm cắp tài sản số 119/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 119/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Bố Trạch - Quảng Bình |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 12/12/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về