Bản án về tội trộm cắp tài sản số 08/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 08/2024/HS-ST NGÀY 19/01/2024 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 19 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 100/2023/HSST ngày 01 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Viết P Giới tính: Nam Tên gọi khác: Không có Sinh năm 1997 tại Bình Phước HKTT và chỗ ở: Thôn 6, xã H, huyện P, tỉnh Bình Phước

Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 1/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không; Con ông Vũ Viết K – sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị B – sinh năm 1974; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không;

Tiền án: 04

+ Ngày 30/9/2015, bị Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 110/2015/HS-ST;

+ Ngày 09/9/2016, bị Toà án nhân dân huyện Pềng, tỉnh Bình Phước xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp bản án số 110/2015/HS-ST ngày 30/9/2015 của Toà án nhân dân huyện BMập, buộc phải chấp hành 19 tháng tù theo Bản án số 77/2016/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/10/2017;

+ Ngày 29/8/2018, bị Toà án nhân dân huyện Đ xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 37/2018/HS-ST. Châp hành xong hình phạt ngày 29/02/2020;

+ Ngày 31/8/2020, bị Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bình Phước xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 49/2020/HS-ST.

Chấp hành xong hình phạt ngày 21/7/2022.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 11/8/2023, hiện bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Phú Riềng. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

Nguyễn Thị C – sinh năm: 1972. Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Bá H – sinh năm 1995. Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn 7, xã H, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước

2. Bà Phạm Thị T – sinh năm 1973. Có mặt

Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước

3. Bà Trần Thị T – sinh năm 1994. Có mặt

Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Viết P và Lương Hữu T, sinh năm: 1987; Cư trú: Thôn 7, xã H, huyện Phú Riềng có mối quan hệ quen biết ngoài xã hội.

Khoảng 13 giờ ngày 11/8/2023, T rủ P đi trộm cắp tài sản thì P đồng ý (bút lục: 104). P đưa xe mô tô Yamaha Exciter, biển số: 93P2 – X của mình để T điều khiển chở P từ xã H đến xã Phú Riềng mục đích trộm cắp tài sản. Khi đi qua nhà bà Nguyễn Thị C tại thôn Phú Hưng, xã Phú Riềng, huyện Phú Riềng thì cả hai phát hiện cửa cổng mở, bên trong sân nhà có 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Wave RSX, biển số: 93Y1-X không ai trông coi nên T dừng xe lại gần đó, đứng ngoài cảnh giới, còn P đi bộ vào dùng đoản phá khoá tự chế hình chữ T một đầu hình lục giác (đã được T đưa trước đó) để bẻ ổ khoá nhưng phát hiện có tiếng động nên chạy ra lên xe mô tô của T chở đi. Sau đó, T điều khiển xe chở P tiếp tục quan sát nhà bà C nhưng không phát hiện thấy ai nên tiếp tục quay lại để P đi vào nhà bà C dùng đoản phá khóa xe mô tô trên rồi dắt xe đi khoảng 02m định ngồi lên xe thì hệ thống báo trộm của xe kêu lên nên ông Lê Kim Cc đối diện nhà bà C phát hiện truy hô nên P bỏ xe lại chạy ra lên xe mô tô của T bỏ chạy. Cùng thời điểm này, tổ tuần tra Công an xã Phú Riềng đang đi tuần tra nên đuổi theo P và T. Khi đuổi đến đoạn đường ĐT741 hướng Phú Riềng đi xã Bù Nho thuộc thôn Phú Thành, xã Phú Riềng thì T lao xe xuống mương nước bên tay phải theo chiều đi của mình làm cả 02 bị ngã thì lực lượng công an khống chế bắt quả tang được P, còn T bỏ chạy thoát.

Do P bị ngã xuống mương, bị thương tích nên Cơ quan Công an báo cáo để lực lượng Cảnh sát giao thông khám nghiệm hiện trường.

Quá trình bắt quả tang thu giữ: 01 xe mô tô Wave RSX màu xám - đen biển số 93Y1-X, qua kiểm tra ổ khoá bị hư không hoạt động được; 01 điện thoại di động Nokia loại 105 màu đen, có dán mặt sau màu đen trắng; 01 cái nón bảo hiểm màu xám có chữ nón sơn kiểu đã qua sử dụng; 01 cái áo khoác màu đen, kiểu qua đã qua sử dụng; 01 cái quần jean ngắn màu trắng có chữ ZARA phía sau quần đã qua sử dụng (bút lục 22, 23).

Quá trình khám nghiệm hiện trường thu giữ: 01 xe mô tô biển số: 93P2- X; 01 áo khoác màu đen hiệu PLIALA; 01 bình xịt hơi cay quấn băng keo đen và 01 đôi dép nhựa nhãn hiệu Bitis màu xanh -đỏ -trắng (42,43).

Thu giữ: 01 đoạn video ghi lại cảnh P thực hiện hành vi trộm chiếc xe mô tô biển số: 93Y1-X (đã được niêm phong) do bà Nguyễn Thị C giao nộp (bút lục: 145).

Tại Kết luận định giá tài sản số 39/KL-HĐĐGTS ngày 17/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Phú Riềng kết luận: xe mô tô hiệu Wave RSX màu xám - đen biển số 93Y1-X vào thời điểm ngày 11/8/2023 có giá trị là 23.400.000 đồng. (bút lục 61, 62).

Ngày 06/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Riềng trưng cầu Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh giám định ADN đối với các đồ vật thu tại hiện trường gồm: 01 áo khoác màu đen hiệu PUMA, 01 bình xịt hơi cay quấn băng keo màu đen, 01 đôi dép bằng nhựa nhãn hiệu Bitis màu xanh - đỏ - trắng và 02 lót tay cầm bằng nhựa màu đen của xe mô tô Exciter màu xám - đen - cam, BKS: 93P2 - X, số khung RLCUG1010LY264549 số máy G3D4E1035653 nhằm xác định có ADN của Lương Hữu T hay không.

Tại Bản kết luận giám định tạm thời số 6443/KL-KTHS, ngày 08/11/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

Trên các mẫu vật gửi giám định có dính tế bào người. Phân tích được kiểu gen không hoàn chỉnh do mẫu kém nên không truy nguyên được cá thể.

Lưu kiểu gen của Lương Hữu T (mẫu so sánh) tại Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại Bản cáo trạng số 99/CT-VKSPR ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng đã truy tố bị cáo Vũ Viết P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như trên và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38;

Điều 50 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Vũ Viết P mức án từ 33 (ba mươi ba) tháng đến 39 (ba mươi chín) tháng tù.

Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại; người làm chứng; biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng của vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác được thẩm tra tại phiên tòa. Trên cơ sở đó đã xác định được:

Do lười lao động muốn có T tiêu xài cá nhân nên khoảng 13 giờ 00 phút ngày 11/8/2023, Vũ Viết P và đồng phạm đã lén lút chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị C 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX màu xám - đen biển số 93Y1-X có giá trị 23.400.000 đồng tại thôn Phú Hưng, xã Phú Riềng, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.

Hành vi của bị cáo thực hiện đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa P và hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa C trong xã hội.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

* Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

* Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; tài sản đã được thu hồi và trả lại cho người bị hại. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu: Ngày 30/9/2015, bị Toà án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 09/9/2016, bị Toà án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp bản án số110/2015/HS-ST ngày 30/9/2015 của Toà án nhân dân huyện Bù Gia Mập, buộc bị cáo phải chấp hành 19 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/10/2017; Ngày 29/8/2018, bị Toà án nhân dân huyện Đồng Phú xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 29/02/2020; Ngày 31/8/2020, bị Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 21/7/2022. Ngày 11/8/2023, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX màu xám - đen biển số: 93Y1-X của bà Nguyễn Thị C. Mặc dù giá trị chiếc xe 23.400.000 đồng nhưng lần phạm tội này của bị cáo thuộc tình tiết “Tái phạm nguy hiểm” nên bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng truy tố theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa C trong xã hội.

Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề ngH, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt T đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 nón bảo hiểm màu xám có chữ “nón sơn” kiểu đã qua sử dụng;

01 cái áo khoác màu đen, kiểu qua đã qua sử dụng; 01 quần jean ngắn màu trắng có chữ ZARA phía sau quần và 01 đôi dép nhựa nhãn hiệu Bitis màu xanh -đỏ - trắng. Đây là trang phục mà bị cáo mặc trên người khi thực hiện hành vi phạm tội, do không còn giá trị sử dụng và bị cáo cũng không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen, quá trình điều tra, chứng minh được đây là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 USB quay lại cảnh bị cáo thực hiện hành vi trộm chiếc xe mô tô biển số: 93Y1-X đã được đánh số bút lục có tại hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với 01 bình xịt hơi cay quấn băng keo màu đen, bị cáo khai do T mang theo để làm công cụ chống trả khi bị truy bắt, là công cụ, P tiện phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với xe mô tô biển số 93Y1-X, quá trình điều tra chứng minh được đây là tài sản hợp pháp của người bị hại Nguyễn Thị C nên ngày 24/8/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Riềng xử lý vật chứng trả lại cho bà C (bút lục 163) là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với xe mô tô biển số 93P2.X. Qua tra cứu chiếc xe này có biển số 93P2-609.55 mang tên Nguyễn Văn Tùng, sau đó bán lại cho ông Nguyễn Bá H. Ngày 11/8/2023, bị cáo mượn xe mô tô trên của H đi chơi sau đó sử dụng vào việc phạm tội, ông H không biết nên cần trả lại xe cho H. Đối với biển số xe 93P2 X là vật chứng trong vụ án do Công an xã Đồng Tâm, huyện Đồng Phú thụ lý, cơ quan điều tra Công an huyện Phú Riềng đã chuyển cho Công an xã Đồng Tâm, huyện Đồng Phú để xử lý theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại bà Nguyễn Thị C đã nhận lại xe mô tô và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7]. Đối với Lương Hữu T, trong quá trình điều tra, T không thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội cùng với bị cáo P. Do chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo, ngoài ra không có nhân chứng cũng như chứng cứ nào khác xác định T tham gia trộm cắp tài sản với P. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Riềng tách ra, tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

luật.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Vũ Viết P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Vũ Viết P 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 11/8/2023.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu huỷ: 01 nón bảo hiểm màu xám có chữ “nón sơn” kiểu đã qua sử dụng; 01 cái áo khoác màu đen, kiểu qua đã qua sử dụng; 01 quần jean ngắn màu trắng có chữ ZARA phía sau quần và 01 đôi dép nhựa nhãn hiệu Bitis màu xanh -đỏ -trắng; 01 bình xịt hơi cay quấn băng keo màu đen.

Trả lại bị cáo Vũ Viết P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen. Trả lại ông Nguyễn Bá H 01 xe mô tô Yamaha Exciter màu xám đen cam số khung RCUG1010LY264549, số máy G3D4E1035635.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 0011930 ngày 04/12/2023 giữa Công an huyện Phú Riềng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Riềng).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết về án phí, lệ phí: Buộc bị cáo Vũ Viết P phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo; Người bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

37
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội trộm cắp tài sản số 08/2024/HS-ST

Số hiệu:08/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phú Riềng - Bình Phước
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 19/01/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về