TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT TIÊN, TỈNH LÂM ĐỒNG
BẢN ÁN 06/2024/HS-ST NGÀY 30/01/2024 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Ngày 30 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
- Triệu Sinh Q, sinh năm: 2000, tại: Lâm Đồng. Nơi cư trú: Thôn Sơn Hải, xã P 2, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông;
trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Triệu Văn Thạch và con bà: Lý Thị Thảo; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa - Người bị hại: Uỷ ban mặt trận tổ quốc Việt Nam xã P 2 Do ông Đường Bình Đ - Sinh năm 1987, là chủ tịch làm đại diện Trú tại: Thôn Sơn Hải, xã P 2, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
Ông Nguyễn Văn B - Sinh năm: 1982 Trú tại: TDP 6, thị trấn P, huyện Cát Tiên ,tỉnh Lâm Đồng
Ông Nguyễn Doãn G - Sinh năm: 1993 Trú tại: Thôn P, xã P 2, huyện Cát Tiên ,tỉnh Lâm Đồng
Ông Sằm Văn M - Sinh năm: 1985 Trú tại: Thôn P, xã P 2, huyện Cát Tiên ,tỉnh Lâm Đồng
Ông Nguyễn Tiến D - Sinh năm: 1997 Trú tại: Thôn P, xã P 2, huyện Cát Tiên ,tỉnh Lâm Đồng
Bà Nguyễn Thị Thanh H - Sinh năm: 1987 Trú tại: Thôn P, xã P 2, huyện Cát Tiên ,tỉnh Lâm Đồng
Bà Dương Thị B - Sinh năm: 1984 Trú tại: Thôn Sơn Hải, xã P 2, huyện Cát Tiên ,tỉnh Lâm Đồng Những người làm chứng vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 07/8/2023 Triệu Sinh Q là Phó bí thư đoàn xã P 2, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng đang dự tiệc liên hoan cùng cơ quan tại trụ sở UBND xã P 2 thì nhận được điện thoại của một số người gọi đến để đòi tiền mà Q nợ. Vì không có tiền để trả nợ nên Q nảy sinh ý định sẽ trộm cắp tiền của anh Đường Bình Đ, Chủ tịch mặt trận tổ quốc Việt Nam xã P 2, vì Quang biết anh Đ được giao quản lý một số tiền quỹ của Mặt trận tổ quốc trong két sắt tại phòng làm việc. Trước đó, khi anh Đ thay đổi mật khẩu của két sắt thì Quang nhìn thấy và biết được mật khẩu của két sắt là 04 chữ “D”. Khoảng 19 giờ cùng ngày sau khi liên hoan xong mọi người rủ nhau đi lên trạm kiểm lâm Phước Sơn thuộc thôn Sơn Hải, xã P 2 để tiếp tục liên hoan. Anh Đ đưa xe mô tô của mình cho Q để Q chở ông Nguyễn Thiện M - Chủ tịch hội đồng nhân dân xã P 2 đến Trạm Kiểm Phước Sơn liên hoan. Không tìm thấy ông M nên Q điều khiển xe mô tô đến nhà ông Mỹ nhưng cũng không thấy ông M ở nhà nên Q điều khiển xe mô tô của anh Đ về lại UBND xã P 2 rồi dựng xe trước phòng Chỉ huy trưởng ban chỉ huy quân sự xã P 2. Sau đó Q cầm chìa khóa xe mô tô của anh Đ (trong chùm chìa khóa xe có chìa khóa phòng làm việc và chìa khóa két sắt) đi bộ đến phòng làm việc của anh Đ. Khi lên đến nơi, Q dùng chìa khóa để mở phòng làm việc rồi tiến đến két sắt, cắm chìa khóa vào lỗ khóa, vặn mật khẩu két sắt về 04 chữ “D” sau đó mở két sắt lấy đi toàn bộ số tiền bên trong gồm 45.000.000 đồng. Quang bỏ toàn bộ số tiền trên vào hai túi quần sau rồi khóa két sắt và cửa phòng lại như cũ. Sau đó, Quang điều khiển xe mô tô của anh Đ lên trạm Kiểm lâm Phước Sơn liên hoan với mọi người và trả xe mô tô cho anh Đ. Sáng ngày hôm sau Q dùng số tiền trộm cắp được mang đi tiêu xài cá nhân và trả nợ hết. Ngày 14/8/2023 anh Đ mở két sắt thì phát hiện bị mất tài sản nên đã trình báo cơ quan công an. Cơ quan công an đã triệu tập Triệu Sinh Q lên làm việc, tại cơ quan công an Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. BL: 54 -73; 75 – 81.
Về trách nhiệm dân sự.
Anh Đường Bình Đ sau khi nhận lại số tiền 45.000.000 đồng do Triệu Sinh Q khắc phục, anh Đ không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên vấn đề dân sự không đặt ra trong vụ án này. BL: 25; 27; 34.
Tại bản cáo trạng số 02/CT - VKSCT ngày 03 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Tiên - Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Triệu Sinh Q về tội: “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
Tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo đã thừa nhận hành vi trộm cắp của mình theo như nội dung của cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và không có ý kiến thắc mắc hay khiếu nại gì.
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Triệu Sinh Quang từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo..
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố của các Cơ quan điều tra;Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại nào về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung của vụ án và cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đã khẳng định: Chiều ngày 07/8/2023 Triệu Sinh Q đang ăn liên hoan cùng cơ quan tại trụ sở UBND xã P 2 thì nhận được điện thoại của một số người gọi đến để đòi nợ. Do không có khả năng trả nợ nên Q nảy sinh ý định trộm cắp tiền của Uỷ ban mặt trận tổ quốc Việt Nam xã P 2 do anh Đường Bình Đ quản lý nên khi được anh Đ giao xe mô tô để đi đón người Q đã điều khiển xe mô tô của anh Đ quay lại UBND xã P 2. Sau đó cầm chìa khóa xe mô tô của anh Đ đi bộ đến phòng làm việc của anh Đ dùng chìa khóa mở cửa phòng rồi đi đến két sắt dùng chìa khóa mở két sắt, bấm mật khẩu mở két sắt lấy đi toàn bộ số tiền 45.000.000 đồng bên trong. Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Triệu Sinh Q phạm tội " Trộm cắp tài sản" tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho hội không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng đến trật tự, trị an tại địa phương. Do vậy cần áp dụng một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Song khi lượng hình cũng cần áp dụng chính sách khoan hồng của Pháp luật để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Trong quá trình điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại và người bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Được quy định tại các điểm b,i,s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.
Xét thấy: Không cần thiết cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương phối hợp với gia đình bị cáo quản lý, giáo dục một thời gian cũng đủ tính răn đe, giáo dục.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Ông Đường Bình B là đại diện hợp pháp cho bị hại sau khi đã nhận đủ số tiền 45.000.000 đ (Bốn mười lăm triệu đồng) từ bị cáo không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
[4] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Tuyên bố: Bị cáo Triệu Sinh Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
[2] Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b,i,s khoản 1,khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự.
[3] Xử phạt: Bị cáo Triệu Sinh Q 18 ( mười tám ) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 30/01/2024).
Giao bị cáo Triệu Sinh Q cho Ủy ban nhân dân xã P 2, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng nơi bị cáo cư trú quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo có sự thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án hình sự được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
[5] Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Bản án về tội trộm cắp tài sản số 06/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 06/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Cát Tiên - Lâm Đồng |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 30/01/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về