Bản án về tội trộm cắp tài sản số 05/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 05/2024/HS-ST NGÀY 19/02/2024 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 19 tháng 02 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 110/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2023/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 11 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Họ tên: Lưu Hải Q; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không - Sinh ngày: 21/7/2006 tại: Thái Nguyên.

- ĐKTT và nơi ở: Thôn T, xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12. Con ông: Lưu Ngọc T, sinh năm: 1982; Con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1984; - Vợ, C: Chưa có; Bị cáo Q là con duy nhất trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không.

BỊ cáo không bị tạm giữ tạm giam, hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt tại phiên tòa)

2. Họ tên: Nguyễn Xuân N; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 22/10/2005 tại: Thái Nguyên.

HKTT và nơi cư trú: Xóm T, xã H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

- Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Học sinh. Trình độ học vấn: 11/12. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông: Nguyễn Văn Q1, sinh năm: 1977; Con bà: Nguyễn Thị V, sinh năm 1983; Vợ, Con: Chưa có; Gia đình có 03 chị, em, bị cáo là con thứ hai.

- Tiền án, tiền sự: Không.

Trong vụ án này bị cáo không bị tạm giữ tạm giam, hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Tuy nhiên, bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Bắc Giang trong vụ án khác từ ngày 13/01/2024 (có mặt tại phiên tòa)

3. Họ tên: Nguyễn Huy H1; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 13/01/2006 tại: Thái Nguyên; Đăng ký thường trú: Xóm Đ, xã H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Nơi ở hiện nay: Xóm Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 09/12. Tôn giáo: Không. Con ông: Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1982; Con bà: Lê Thị H2, sinh năm: 1984; Vợ, Con: Chưa có; Gia đình có 02 anh, em bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ tạm giam, hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt tại phiên tòa).

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lưu Hải Q là Ông Lưu Ngọc T, sinh năm 1982 (có mặt);

Trú tại: Thôn T, xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Huy H1 là Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1982 (có mặt);

Nơi ĐKHKTT: Xóm Đồn, xã H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Chỗ ở hiện nay: Xóm Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn Đ là Bà Sầm Lệ Q2, sinh năm 1991 (vắng mặt).

Trú tại: Xóm Đ, xã H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên - Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Xuân N là Bà Nguyễn Thị V (có mặt) Trú tại: Xóm T, xã H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Huy H1 và Nguyễn Xuân N là bà Nguyễn Ngọc Q3 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T (có mặt);

Người bào chữa cho bị cáo Lưu Hải Q là bà Thiệu Thị Thanh H3 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T (có mặt);

- Bị hại: Ông Nguyễn Viết T1, sinh năm 1964 (có đơn xin xét xử vắng mặt);

Trú tại: Xóm S, xã H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

- Người có quyền li nghĩa vụ liên quan: Ông Lưu Ngọc T, sinh năm 1982 (có mặt);

Trú tại: Thôn T, xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

- Người làm chứng:

1. Anh Hà Văn K, sinh năm 1997 (có đơn xin xét xử vắng mặt);

Trú tại: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

2. Anh Dương Bá K1, sinh năm 1991 (vắng mặt);

Trú tại: Xóm Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

3. Anh Chu Xuân H4, sinh năm 1982 (vắng mặt);

Trú tại: TDP T, phường B, TP S, tỉnh Thái Nguyên.

4. Anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 2003 (vắng mặt);

Trú tại: Xóm K, xã P, TP T, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 11/06/2023, Lưu Hải Q đi bộ từ khu vực xóm Đ, xã H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên theo đường liên xã hướng về cầu H với mục đích xem nhà nào có sơ hở để trộm cắp tài sản. KHI đi đến khu vực xóm C, xã H, huyện P, Q thấy nhà ông Nguyễn Viết T1 không đóng cổng. Thấy vậy, Q dùng tay đẩy cánh cổng và đi vào trong nhà ông T1, lúc này ông T1 đang ngủ trong nhà, Q đi xuống khu vực bếp để tìm đồ ăn thì phát hiện xe mô tô BKS: 20G1- X đang có cắm chìa khóa tại ổ khóa điện. Q tiến lại gần dắt xe mô tô trên ra cổng và dắt xe đi khoảng 50m, rồi ngồi lên xe nổ máy điều khiển xe đi về hướng cầu H sang khu vực xã K, huyện P rồi theo đường QL37 hướng về đường tròn Điềm T để tìm chỗ cắm xe mô tô, nhưng không tìm được cửa hàng nào, Q tiếp tục điều khiển xe đi sang khu vực P để tìm chỗ cắm xe. Khoảng 14 giờ cùng ngày, Q nhắn tin cho Nguyễn Xuân N từ tài khoản Mesenger của Q tên “Lưu Hải Q” tới tài khoản của N tên “Nguyễn Xuân N" và hỏi N về chỗ cắm xe, Q nói cho N biết việc Q “nhảy” xe được ở Bắc Giang, ý là “xe trộm cắp ở bên Bắc Giang” và rủ N đi cắm xe cùng, nhưng N không đi do N đang đi ăn cổ. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Q nhắn tin qua Mesenger bằng tài khoản “Lưu Hải Q” cho Nguyễn Huy H1 tên tài khoản “Hoàng Xiang” và hỏi H1 về chỗ cắm xe. H1 hỏi Q về nguồn gốc xe thì Q nói là “xe mượn của bạn ở P” tại thời điểm này do N và H1 đang ngồi cạnh nhau tại quán Internet, khi biết Q nhắn tin hỏi H1 về chỗ cắm xe, N đã nói cho H1 biết xe mô tô Q nhờ cắm là xe trộm cắp được ở Bắc Giang. Lúc này, H1 nói với Q về việc sẽ đi cắm xe cho Q nếu Q trả nợ cũ cho H1 (700.000 đồng) và trả tiền “lộc” (ý là tiền công) cho H1 và N mỗi người 500.000 đồng thì H1 sẽ đồng ý tìm chỗ cắm xe cho Q. Sau khi bàn bạc thống nhất, Q đồng ý trả tiền nợ, tiền “lộc” cho H1 tổng 1.000.000 đồng, cho N 200.000 đồng. Sau đó, H1 và Q hẹn nhau tại khu vực bể bơi H5 thuộc TDP. H, phường Đ, TP ., tỉnh Thái Nguyên để tìm chỗ cắm xe.

Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, H1, N và Q gặp nhau tại khu vực P, lúc này H1 hỏi Q “lấy xe ở đâu” thì Q nói cho H1 biết “xe lấy bên Bắc Giang”, ý nói là xe Q trộm cắp ở Bắc Giang. Tại đây, Q, N và H1 nói chuyện về việc sẽ đem xe đi tìm chỗ cắm thì cả ba thống nhất đi lên khu vực khu công nghiệp Đ đề tìm chỗ cắm xe. Sau đó, Q, H1 và N đi lên khu công nghiệp Đ, huyện P, N chỉ cho Q vào cửa hàng “mua bán, trao đổi xe cũ Anh C1” tại TDP M, phường H, TP ., do trước đó N đã từng cắm xe ở cửa hàng này. Sau đó, Q đi vào cắm xe cho anh Hà Văn K với giá 4.000.000 đồng, sau khi thỏa thuận lãi suất cắm xe anh K trả cho Q 3.600.000 đồng. Nhận được tiền, Q nhờ N, H1 đi tìm chỗ trọ cho Q tại khu vực xóm T, xã Đ, huyện P. Tại đây, Q đưa cho H1 số tiền 1.600.000 đồng (trong đó có 700.000 đồng tiền nợ, 400.000 đồng tiền công H1 đi cắm xe, 200.000 đồng tiền công của N đi cắm xe và 300.000 đồng H1 vay Q). Sau đó, H1 đưa cho N số tiền 200.000 đồng, số tiền có được từ việc cắm xe nêu trên Q, H1 và N đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 16/6/2023 ông Nguyễn Viết T1 có đơn trình báo gửi Công an xã H, huyện P về việc gia đình bị mất xe mô tô và đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ngày 17/6/2023, Lưu Hải Q đến Công an xã H, huyện P đầu thú và giao nộp lại xe mô tô BKS: 20G1-X. Cùng ngày Công an xã H chuyền hồ sơ cùng vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P để giải quyết theo thẩm quyền.

Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tiến hành trích xuất, kiểm tra dữ liệu camera an ninh của Công an xã K, Công an xã H, huyện P; trích xuất camera của nhà ông Tạ Như L (sinh năm: 1958, TQ: xóm C, xã H, huyện P) có hình ảnh liên quan hành vi vi phạm pháp luật xảy ra ngày 11/6/2023. Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Lưu Hải Q khai nhận người có hành vi vi phạm pháp luật ghi lại trong các đĩa video trên là Q.

Ngày 17/6/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện P kiểm tra nội dung tin nhắn Messenger bằng tài khoản Facebook của Lưu Hải Q, Nguyễn Huy H1 và Nguyễn Xuân N kết quả: Tài khoản Messenger của Lưu Hải Q còn lưu trữ tin nhắn trao đổi, bàn bạc trước khi mang xe đi cắm giữa Q với H1 và N. Còn tài khoản Messenger của Nguyễn Huy H1 và Nguyễn Xuân N không tìm thấy nội dung tin nhắn, H1 và Nguyên khai đã xóa hết các tin nhắn trao đổi, bàn bạc với Q vì sợ Công an phát hiện.

Ngày 18/6/2023, Lưu Hải Q giao nộp cho cơ quan điều tra 01 áo khoác dài tay màu đen, có mũ, khóa kéo phía trước.

Ngày 19/6/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện P ra Yêu cầu định giá tài sản số 58/YC-ĐTTH, yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P định giá xe mô tô BKS: 20G1-X nhãn hiệu HONDA màu sơn đỏ - đen do Lưu Hải Q trộm cắp.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 55/KL-HDĐGTS ngày 26/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện P kết luận: xe mô tô BKS: 20G1-X nhãn hiệu HONDA màu sơn đỏ - đen do Lưu Hải Q trộm cắp của ông Nguyễn Viết T1 giá trị là 6.750.000 đồng (sáu triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Tại Cơ quan điều tra, Lưu Hải Q, Nguyễn Huy H1 và Nguyễn Xuân N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên. Lời khai của các bị cáo là có căn cứ, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng, biên bản xác định, sơ đồ hiện trường và các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án gồm: - 01 xe mô tô BKS: 20G1-X nhãn hiệu HONDA màu sơn đỏ - đen. Ngày 25/8/2023, cơ quan CSĐT Công an huyện P đã trả lại cho ông Nguyễn Viết T1 là chủ sở hữu quản lý và sử dụng theo quy định của pháp luật - 03 đĩa DVD bên trong có chứa các file video nội dung liên quan đến hành vi phạm tội của Lưu Hải Q được niêm phong trong phong bì ký hiệu “TH”; 02 đĩa DVD lưu trữ video lấy lời khai của Nguyễn Huy H1 và Nguyễn Xuân N được lưu theo hồ sơ vụ án;

- 01 áo khoác dài tay màu đen, có mũ, khóa kéo phía trước là áo Q mặc đi trộm cắp tài sản hiện đang bảo quản tại kho vật chứng của CH1 cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự:

Ngày 25/8/2023, cơ quan CSĐT Công an huyện P đã trả lại 01 xe mô tô BKS: 20G1-X nhãn hiệu HONDA màu sơn đỏ - đen cho ông Nguyễn Viết T1 là chủ sở hữu quản lý và sử dụng theo quy định của pháp luật Ông Lưu Ngọc T (bố đẻ bị cáo Lưu Hải Q) không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền 4.000.000đ ông đã bỏ ra đề giúp bị cáo Lưu Hải Q chuộc xe về trả lại cho bị hại.

Căn cứ các tình tiết và chứng cứ nêu trên, Tại bản cáo trạng số 115/CT-VKSHPB ngày 16/10/2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố bị cáo Lưu Hải Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS và Nguyễn Huy H1, Nguyễn Xuân N về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, theo khoản 1 Điều 323 BLHS.

Tại phiên tòa hôm nay Lưu Hải Q, Nguyễn Huy H1, Nguyễn Xuân N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Kết thúc thẩm vấn, vị đại diện Viện kiềm sát nhân dân huyện Phú Bình trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lưu Hải Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và Nguyễn Huy H1, Nguyễn Xuân N phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều Điều 65, Điều 91, 98, 101 Bộ luật Hình sự;

xử phạt Lưu Hải Q từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”;

- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 91, 98, 101 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Huy H1 từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”;

- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 91, 98, 101 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Xuân N từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”;

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về phần dân sự: Ngày 25/8/2023, cơ quan CSĐT Công an huyện P đã trả lại 01 xe mô tô BKS: 20G 1-X nhãn hiệu HONDA màu sơn đỏ - đen cho ông Nguyễn Viết T1 là chủ sở hữu quản lý và sử dụng theo quy định của pháp luật Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự - Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác dài tay màu đen, có mũ, khóa kéo phía trước là áo Q mặc đi trộm cắp tài sản.

- Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền thu lợi bất chính của các bị cáo. Trong đó bị cáo Lưu Hải Q 3.000.000đ; bị cáo Nguyễn Huy H1 400.000đ; bị cáo Nguyễn Xuân N 200.000đ.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.

Các bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử là không oan, đúng người, đúng tội.

Người đại diện hợp pháp của các bị cáo không có ý kiến tranh luận, ông Nguyễn Văn Đ đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Huy H1 đề nghị Hội đồng xét xử đúng người đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho các bị cáo: Bà Nguyễn Ngọc Q3 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Huy H1 và bị cáo Nguyễn Xuân N: Nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình về tội danh, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về việc đánh giá tính chất mức độ của hành vi phạm tội, vai trò của các bị cáo trong vụ án. Về hình phạt chính: Khi phạm tội các bị cáo đều dưới 18 tuổi nên nhận thức chưa đầy đủ về tính chất mức độ của hành vi các bị cáo đã gây ra, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Bà Thiệu Thị Thanh H3 bào chữa cho bị cáo Lưu Hải Q: Nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình về tội danh, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về việc đánh giá tính chất mức độ của hành vi phạm tội. Về hình phạt chính: Khi phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi nên nhận thức chưa đầy đủ về tính chất mức độ của hành vi bị cáo đã gây ra, bị cáo có nhân thân tốt, được hưởng 04 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được cải tạo giáo dục dưới sự giám sát của chính quyền địa phương.

Trong lời nói sau cùng các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, các bị cáo xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố là đúng người, đúng tội, không oan. Xét thấy lời nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, biên bản xác định, sơ đồ hiện trường và các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, kết luận định giá tài sản. Như vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:

Hồi 12 giờ 15 phút ngày 11/6/2023, tại nhà ông Nguyễn Viết T1 ở xóm S xã H, huyện P, Lưu Hải Q (16 tuổi 10 tháng 20 ngày) có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô BKS: 20G1-X nhãn hiệu HONDA màu sơn đỏ - đen trị giá 6.750.000 đồng (Sáu triệu bẩy trăm năm mươi nghìn đồng) của gia đình ông T1. Sau khi lấy trộm được xe mô tô trên Q nhắn tin cho Nguyễn Xuân N và Nguyễn Huy H1 để trao đổi, bàn bạc tìm chỗ cắm xe do Q trộm cắp được.

Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày, Q, Nguyễn Xuân N (17 tuổi 7 tháng 19 ngày) và Nguyễn Huy H1 (17 tuổi 5 tháng 28 ngày) cùng đi đến cửa hàng và “mua bán, trao đổi xe cũ Anh C1” tại TDP M, phường H, TP ., Q mang xe trộm cắp được vào cắm cho anh Hà Văn K với giá 4.000.000 đồng, sau khi thỏa thuận lãi suất cắm xe anh K trả cho Q 3.600.000 đồng. Nhận được tiền Q đưa cho H1 1.600.000 đồng (trong đó có 700.000 đồng tiền trả nợ, 400.000 đồng tiền công H1 đưa đi cắm xe, 200.000 đồng tiền công của N đưa đi cắm xe và 300.000 đồng H1 vay Q). Số tiền có được từ việc cắm xe nêu trên Q, H1 và N đã tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 16/6/2023, ông Nguyễn Viết T1 làm đơn trình báo bị mất trộm xe mô tô, đến nay đã thu hồi được xe mô tô trên giao cho ông T1 quản lý theo quy định.

Hành vi nêu trên của Lưu Hải Q đã phạm vào tội: Trm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Nguyễn Huy H1 và Nguyễn Xuân N đã vi phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Nội dung Điều 173 BLHS quy định:

“1. Người nào trộm cp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng....., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Nội dung khoản 1 điều 323 quy định:

”1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3]. Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội các bị cáo đã gây ra: Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội bị cáo Q đã thực hiện đối với tội “Trộm cắp tài sản” là ít nghiêm trọng, bị cáo Nguyễn Huy H1 và Nguyễn Xuân N tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là ít nghiêm trọng.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo Lưu Hải Q xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” của bị cáo Nguyễn Huy H1 và Nguyễn Xuân N đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây khó khăn cho việc phát hiện, điều tra và xử lý người phạm tội. Hành vi của các bị cáo còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương là một trong những nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác. Trong vụ án này các bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, bị cáo N và bị cáo H1 thực hiện hành vi có tính chất đồng phạm giản đơn đều là người thực hiện tội phạm, có vai trò như nhau.

Vì vậy cần phải xét xử bị cáo với mức án nghiêm khắc phù hợp với hành vi bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy: Các bị cáo có nhân thân tốt, tuổi đời còn trẻ, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Q được hưởng 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là "người phạm tội khắc phục hậu quả", "phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng", "người phạm tội thành khẩn khai báo” và đầu thú quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Huy H1 và Nguyễn Xuân N được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là "phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng" và "người phạm tội thành khẩn khai báo" quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4]. Về hình phạt: Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò, cũng như nhân thân của bị cáo thì thấy rằng cần có có mức án nghiêm khắc để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo tính chất ngăn ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên tại thời điểm phạm tội các bị cáo đều dưới 18 tuổi nên cần áp dụng các quy định tại Điều 91, 98, 101 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt, các bị cáo đều có nhân thân tốt nên Hội đồng xét xử giảm một phần hình phạt cho các bị cáo.

Đối với bị cáo Lưu Hải Q được hưởng 03 tình nhiều tiết giảm nhẹ theo điểm b, i, s khoản 1, 01 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, chấp hành tốt biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, đủ điều kiện áp dụng Điều 65 bộ luật hình sự và Điều 2 NQ 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương điều đó thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo giáo dục trở thành người có ích cho xã hội.

Đối với bị cáo bị cáo Nguyễn Xuân N và bị cáo Nguyễn Huy H1 được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS, tuy nhiên hiện nay bị cáo N đang bị khởi tố và tạm giam trong 01 vụ án khác, bị cáo H1 không chấp hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có biểu hiện trốn tránh, gây khó khăn cho việc xét xử, Tòa án đã có công văn yêu cầu cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P ra lệnh truy nã bị cáo. Do vậy cần thiết phải cách ly các bị cáo một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Xét thấy mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị khi luận tội là phù hợp với hành vi phạm tội các bị cáo đã gây ra.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5]. Về vật chứng thu giữ:

- Đối với 03 đĩa DVD bên trong có chứa các file video nội dung liên quan đến hành vi phạm tội của Lưu Hải Q được niêm phong trong phong bì ký hiệu “TH”; 02 đĩa DVD lưu trữ video lấy lời khai của Nguyễn Huy H1 và Nguyễn Xuân N cần được lưu theo hồ sơ vụ án.

- Đối với vật chứng là 01 áo khoác dài tay màu đen, có mũ, khóa kéo phía trước là áo Q mặc đi trộm cắp tài sản xét không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 xe mô tô BKS: 20G1-X nhãn hiệu HONDA màu sơn đỏ - đen Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Viết T1 là chủ sở hữu quản lý và sử dụng theo quy định của pháp luật.

- Đối với số tiền các bị cáo cầm cố xe là 3.600.000đ các bị cáo đã tiêu xài hết. Đây được xác định là số tiền thu lợi bất chính nên cần truy thu sung quỹ nhà nước. Trong đó truy thu của bị cáo Lưu Hải Q 3.000.000đ; bị cáo Nguyễn Huy H1 400.000đ; bị cáo Nguyễn Xuân N 200.000đ.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Viết T1 đã nhận lại được tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với số tiền 4.000.000đ ông Lưu Ngọc T đã bỏ ra để giúp bị cáo Lưu Hải Q chuộc xe về trả lại cho bị hại, ông T không yêu cầu bị cáo Q phải hoàn trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7]. Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của các bị cáo và người bào chữa của các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[8]. Về các vấn đề khác:

Đối với anh Hà Văn K nhận cắm xe để cho Q vay tiền, tuy nhiên khi đến cắm xe Q nói với anh K là xe của Q. Anh K không biết tài sản là do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với K là có căn cứ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Lưu Hải Q phạm tội “Trộm cắp tài sản và Bị cáo Nguyễn Xuân N, Nguyễn Huy H1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có 2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65, Điều 91, 98, 101 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt Bị cáo Lưu Hải Q 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;

Giao bị cáo cho UBND xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát và giáo dục.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 91, 98, 101 Bộ luật Hình sự Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân N 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày đi chấp hành bản án.

4. Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 91, 98, 101 Bộ luật Hình sự Xử phạt: bị cáo Nguyễn Huy H1 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày đi chấp hành bản án.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

5. Ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Lưu Hải Q và Nguyễn Huy H1, buộc các bị cáo không được phép đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 19 tháng 02 năm 2024 cho đến khi bị cáo chấp hành bản án. Giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú để quản lý, theo dõi.

6. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự - Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác dài tay màu đen, có mũ, khóa kéo phía trước (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/10/2023 giữa Công an huyện P với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên).

- Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền thu lợi bất chính của các bị cáo. Trong đó bị cáo Lưu Hải Q 3.000.000đ (Ba triệu đồng); bị cáo Nguyễn Huy H1 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng); bị cáo Nguyễn Xuân N 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

- Lưu theo hồ sơ vụ án 03 đĩa DVD bên trong có chứa các file video nội dung liên quan đến hành vi phạm tội của Lưu Hải Q được niêm phong trong phong bì ký hiệu “TH”; 02 đĩa DVD lưu trữ video lấy lời khai của Nguyễn Huy H1 và Nguyễn Xuân N.

- Ghi nhận việc ông Nguyễn Viết T1 đã được nhận lại 01 xe mô tô BKS: 20G 1-X nhãn hiệu HONDA màu sơn đỏ - đen.

7. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Viết T1 đã nhận lại được tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Ông Lưu Ngọc T không yêu cầu bị cáo Lưu Hải Q phải hoàn trả lại số tiền 4.000.000đ nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

8. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.

9. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa của các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

120
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội trộm cắp tài sản số 05/2024/HS-ST

Số hiệu:05/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phú Bình - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:19/02/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về