Bản án về tội trộm cắp tài sản số 04/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 04/2024/HS-ST NGÀY 20/02/2024 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 20 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2024 theo theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 01/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Tuấn V, sinh năm 1998 tại huyện T, tỉnh An Giang. Nơi thường trú: Ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo phật; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Dương Thị Bích N; Vợ Nguyễn Thúy K, có 01 con sinh năm 2024; anh em ruột có 02 người, bị cáo là con lớn. Tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt tạm giam từ ngày 19-9-2023 đến nay, bị cáo có mặt.

2. Võ Văn T, sinh năm 2001 tại huyện A, tỉnh An Giang. Nơi thường trú: Ấp N, xã A, huyện T, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Ấp T, xã N, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo Hoà Hảo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn H (chết) và bà Trình Thị H1; bị cáo chưa có vợ, con; anh em có 02 người, bị cáo là con nhỏ; tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt tạm giam từ ngày 19-9-2023 đến nay, bị cáo có mặt.

3. Nguyễn Phú V1, sinh năm 1992 tại quận T, thành phố Cần Thơ. Nơi thường trú: khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Ấp A, xã C, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo phật; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị L; vợ Đặng Nguyễn Ánh T1; con có một người sinh năm 2020; anh em ruột có 02 người, bị cáo là con lớn; tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt tạm giam từ ngày 19-9-2023 đến nay, bị cáo có mặt.

4. Dương Thị Bích N, sinh năm 1967 tại thành phố C, tỉnh An Giang. Nơi thường trú: Ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: mua bán phế liệu; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Đạo phật; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Hữu Đ (chết) và bà Nguyễn Thị X (chết); chồng Nguyễn Văn B; có 02 người con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2006; anh em ruột có 07 người, bị cáo là người thứ năm; tiền án, tiền sự: không.

Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23-10-2023 đến nay, bị cáo có mặt.

Bị hại: Ông Đường Thành L1, sinh năm 1979. Nơi cư trú: ấp R, xã C, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt;

- Ông Huỳnh Thanh T2, sinh năm 1976. Nơi cư trú: khóm F, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt;

- Công ty TNHH L2, địa chỉ: ấp R, xã C, huyện T, tỉnh An Giang, do ông Nguyễn Trọng T3, sinh năm 1967. Nơi cư trú: khóm H, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang đại diện, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1963. Nơi cư trú: ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt;

- Bà Trình Thị H1, sinh năm 1972. Nơi cư trú: ấp T, xã N, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt;

- Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1979. Nơi cư trú: khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, vắng mặt.

Người làm chứng:

- Ông Trịnh Văn Đ1, sinh năm 1979, vắng mặt;

- Ông Châu Trí P, sinh năm 1987, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân, khoảng thời gian từ ngày 14-9-2023 đến ngày 18-9-2023, Nguyễn Tuấn V rủ các đồng phạm thực hiện 03 vụ lấy trộm 06 bình ắc quy trên địa bàn xã L và xã C, huyện T, rồi đem lại nhà Dương Thị Bích N (mẹ của V), ngụ ấp A, xã L, huyện T, V cho N biết các bình ắc quy do trộm cắp mà có và bán cho N 03 lần, với tổng số tiền 3.600.000 đồng, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 14-9-2023, V rủ Võ Văn T đi lấy trộm bình ắc quy, T đồng ý. V điều khiển xe ô tô tải ben (chạy thuê cho Công ty TNHH L2) chở T đến chỗ khai thác đá thuộc ấp S, xã L, huyện T, thấy 01 xe cuốc đất của Công ty TNHH L2 đậu không người trông giữ, V kêu T lại lấy trộm 02 bình ắc quy (01 bình ắc quy nhãn hiệu “GS”, loại 150A và 01 bình ắc quy nhãn hiệu “dongnai”, loại 120A), rồi cả hai đem 02 bình ắc quy bán cho N với giá 1.200.000 đồng, chia nhau tiêu xài.

Vụ thứ hai: Khoảng 01 giờ ngày 16-9-2023, V rủ T đi lấy trộm bình ắc quy, T đồng ý. Để thực hiện, V mang theo 01 cây kéo bằng kim loại, rồi điều khiển xe mô tô biển số 68F1-xxxxx chở T đến khu vực bãi đậu xe kiểm phiếu chở đá của Công ty TNHH L2 “Antraco” thuộc ấp R xã C, huyện T, V dùng kéo cắt dây điện nối vào cọc bình, lấy trộm 02 bình ắc quy nhãn hiệu “GS”, loại 150A trên xe ô tô tải biển số 67C-xxxxx của ông Huỳnh Thanh T2, lấy xong V và T chở lại bán cho N với giá 1.200.000 đồng và chia nhau tiêu xài.

Vụ thứ ba: Khoảng 00 giờ ngày 18-9-2023, V rủ T và Nguyễn Phú V1 đi lấy trộm bình ắc quy, T và V1 đồng ý. V mang theo 01 cây kéo, rồi điều khiển xe mô tô 67B1-xxxxx chở V1, còn T điều khiển xe mô tô 68F1- xxxxx chạy phía sau, khi gần đến Cơ sở sửa chữa ô tô “Thành Công” thuộc ấp R, xã C, huyện T, cả nhóm dừng xe lại, V kêu V1 ở ngoài trông xe và cảnh giới, còn V và T leo rào đột nhập vào Cơ sở “Thành Công”, V dùng kéo cắt dây điện lấy trộm 02 bình ắc quy nhãn hiệu “dongnai”, loại 150A, trên xe ô tô tải biển số 61C-xxxxx của ông Đường Thành L1, rồi đem 02 bình ắc quy lại bán cho N với giá 1.200.000 đồng, chia nhau tiêu xài.

Sau khi phát hiện bị mất trộm tài sản, các bị hại đến trình báo Công an xã C. Qua làm việc, V, T và V1 khai nhận thực hiện 03 vụ lấy trộm bình ắc quy nêu trên; N khai nhận biết rõ 06 bình ắc quy do V, T, V1 trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý mua.

Ngày 19-9-2023, V, T, V1 bị khởi tố và tạm giam. Đến ngày 23-10-2023, N bị khởi tố, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

Vật chứng thu giữ:

- 03 (ba) bình ắc quy hiệu GS, loại 150A; 01 (một) bình ắc quy hiệu dongnai, loại 120A; 02 (hai) bình ắc quy hiệu dongnai, loại 150A đã qua sử dụng (đã trả chủ sở hữu); Tiền Việt Nam 1.100.000 đồng;

- 01 (một) xe mô tô biển số 68F1 - xxxxx, loại Wave màu đen, nhãn hiệu GUIDA; 01 (một) xe mô tô biển số 67B1 - xxxxx, loại xe Wave màu xanh, nhãn hiệu WAND cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số: 000841;

- 01 (một) cây kéo bằng kim loại dài 25cm, cán bằng kim loại được ốp nhựa màu đen.

Kết luận định giá tài sản số 39, 40, 41/KL-HĐĐG.TTHS cùng ngày 19/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tống hình sự huyện T, tỉnh An Giang, kết luận:

- 01 bình ắc quy hiệu GS loại 150A, thân bình màu trắng, nắp bình màu xanh, nút bình màu đỏ (đã qua sử dụng) trị giá 1.800.000 đồng; 01 bình ắc quy hiệu dongnai, loại 120A, thân bình màu trắng, nắp bình màu đen, nút bình màu đỏ (đã qua sử dụng) trị giá 1.500.000 đồng. Tổng trị giá 3.300.000 đồng.

- 02 bình ắc quy hiệu GS, loại 150A, thân bình màu trắng, nắp bình màu xanh, nút bình màu đỏ (đã qua sử dụng), trị giá 4.800.000 đồng.

- 02 bình ắc quy hiệu dongnai, loại 150A, thân bình màu trắng, nắp bình màu đen, nút bình màu đỏ (đã qua sử dụng), trị giá 4.640.000 đồng Cáo trạng số 02/CT-VKSTT-HS ngày 12 tháng 01 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn đã truy tố các bị cáo Nguyễn Tuấn V, Võ Văn T và Nguyễn Phú V1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Dương Thị Bích N về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Nguyễn Tuấn V, Võ Văn T và Nguyễn Phú V1, Dương Thị Bích N khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu.

Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại và xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội nên Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ.

Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo V, T, V1, N đã thành khẩn khai báo, tự nguyện khắc phục hậu quả nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo V, T được ông T3 xin giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo V1 được áp dụng thêm tình tiết phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo V, T, N bị áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử: Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn V từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” Xử phạt bị cáo Võ Văn T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự Xử phạt bị cáo Nguyễn Phú V1 từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;

Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự Xử phạt bị cáo Dương Thị Bích N từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Đường T, Huỳnh Thanh T2, người đại diện Nguyễn Trọng T3 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên không xem xét.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý:

Đối với xe mô tô biển số 68F1 - xxxxx, loại Wave màu đen, nhãn hiệu GUIDA, số khung RRKWCHXUM7X- 051497, số máy VTTJL1P52FMH-051497 và xe mô tô biển số 67B1 - xxxxx, loại xe Wave màu xanh, số máy: nhãn hiệu WAND, số khung: RPCDC63UM5A011792; VUMDCYG150FMG-4P111792 cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 000841, hai xe mô tô này thuộc sở hữu của bị cáo T và V, do các bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước;

Đối với cây kéo bằng kim loại dài 25cm, cán bằng kim loại được ốp nhựa màu đen là vật chứng không có giá trị, đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Số tiền 1.100.000 do gia đình các bị cáo V, T và V1 nộp khắc phục hậu quả, đây là tiền khắc phục thu lợi bất chính từ việc bán bình ắc quy lấy trộm mà có nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền 2.400.000 đồng do bị cáo V và T bán 04 cái bình ắc quy lấy trộm mà có, đây là tiền thu lợi bất chính nên buộc các bị cáo V, T giao nộp lại để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Do mỗi bị cáo đã nộp khắc phục 500.000 đồng nên bị cáo V và T còn phải giao nộp thêm số tiền 1.400.000 đồng.

Đối với số tiền 1.200.000 đồng do các bị cáo V, T và V1 bán 02 cái bình ắc quy lấy trộm mà có, đây là tiền thu lợi bất chính nên buộc các bị cáo V, T và V1 giao nộp lại để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Do bị cáo V1 đã nộp khắc phục 100.000 đồng nên bị cáo V, T và V1 còn phải giao nộp thêm số tiền 1.100.000 đồng.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp quy định pháp luật.

Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Tuấn V, Võ Văn T, Nguyễn Phú V1 và Dương Thị Bích N đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Vào các ngày 14-9-2023 và 16-9-2023 Nguyễn Tuấn V cùng Võ Văn T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 04 bình ắc quy, gồm 03 bình ắc quy nhãn hiệu “GS”, loại 150A và 01 bình ắc quy nhãn hiệu “dongnai”, loại 120A trị giá 8.100.000 đồng. Đến ngày 18-9-2023 V, T cùng Nguyễn Phúc V1 tiếp tục thực hiện hành vi lấy trộm 02 bình ắc quy nhãn hiệu “dongnai”, loại 150A trị giá 4.640.000 đồng. Sau đó, đem bán cho bị cáo Dương Thị Bích N lấy tiền tiêu xài cá nhân. Trị giá 06 bình ắc quy mà các bị cáo chiếm đoạt là 12.740.000 đồng nên hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo Dương Thị Bích N dù biết rõ 06 bình ắc quy do V, T, V2 trộm cắp mà có nhưng vẫn hàm lợi thu mua với giá rẻ nên hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

[3] Xét về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản của các bị hại mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Tuấn V là người rủ rê đi lấy trộm và là người trực tiếp chiếm đoạt tài sản, bị cáo Võ Văn T giúp sức cùng bị cáo V thực hiện 03 vụ trộm, bị cáo Nguyễn Phú V1 tuy không trực tiếp chiếm đoạt tài sản nhưng V1 đã giúp sức cảnh giới để cho V, T thực hiện hành vi trộm 02 bình ắc quy, còn bị cáo Dương Thị Bích N mặc dù biết rõ là tài sản trộm cắp mà có nhưng N vẫn thu mua vì hàm lợi. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng chế tài hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, vai trò thực hiện hành vi phạm tội của từng bị cáo, nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo biết sống tuân thủ pháp luật, đồng thời cũng để răn đe, phòng ngừa tội phạm.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo V, T, V1, N đã thành khẩn khai báo, tự nguyện khắc phục hậu quả nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo V, T được ông T3 xin giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo V1 được áp dụng thêm tình tiết phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo V, T thực hiện hành vi phạm tội 03 lần, giá trị tài sản chiếm đoạt mỗi lần đều trên 2.000.000 đồng, tài sản 03 lần chiếm đoạt các bị cáo đều bán cho bị cáo N nên các bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Tuấn V, Võ Văn T, Nguyễn Phú V1 và Dương Thị Bích N không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Đường T, Huỳnh Thanh T2, đại diện bị hại Nguyễn Trọng T3 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng vụ án:

Đối với xe mô tô biển số 68F1 - xxxxx, loại Wave màu đen, nhãn hiệu GUIDA, số khung RRKWCHXUM7X- 051497, số máy VTTJL1P52FMH-051497 và xe mô tô biển số 67B1 - xxxxx, loại xe Wave màu xanh, nhãn hiệu WAND, số khung: RPCDC63UM5A011792; số máy VUMDCYG150FMG-4P111792 cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 000841, hai xe mô tô này thuộc sở hữu của bị cáo T và V, do các bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước;

Đối với cây kéo bằng kim loại dài 25cm, cán bằng kim loại được ốp nhựa màu đen là vật chứng không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

Số tiền 1.100.000 do gia đình các bị cáo V, T và V1 nộp khắc phục hậu quả, đây là tiền khắc phục thu lợi bất chính từ việc bán bình ắc quy lấy trộm mà có nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền 2.400.000 đồng do bị cáo V và T bán 04 cái bình ắc quy lấy trộm mà có, đây là tiền thu lợi bất chính nên buộc các bị cáo V, T giao nộp lại để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Do mỗi bị cáo đã nộp khắc phục 500.000 đồng nên các bị cáo còn phải giao nộp thêm số tiền 1.400.000 đồng.

Đối với số tiền 1.200.000 đồng do các bị cáo V, T và V1 bán 02 cái bình ắc quy lấy trộm mà có, đây là tiền thu lợi bất chính nên buộc các bị cáo V, T và V1 giao nộp lại để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Do bị cáo V1 đã nộp khắc phục 100.000 đồng nên các bị cáo còn phải giao nộp thêm số tiền 1.100.000 đồng.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tuấn V, Võ Văn T và Nguyễn Phú V1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo Dương Thị Bích N phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 19-9- 2023 (ngày mười chín tháng chín năm hai nghìn không trăm hai mươi ba).

Xử phạt bị cáo Võ Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 19-9-2023 (ngày mười chín tháng chín năm hai nghìn không trăm hai mươi ba).

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Điều 58 Bộ luật hình sự Xử phạt bị cáo Nguyễn Phú V1 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 19-9-2023 (ngày mười chín tháng chín năm hai nghìn không trăm hai mươi ba).

Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Dương Thị Bích N 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Căn cứ vào Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Xe mô tô biển số 68F1 - xxxxx, loại Wave màu đen, nhãn hiệu GUIDA, số khung RRKWCHXUM7X- 051497, số máy VTTJL1P52FMH-051497 và xe mô tô biển số 67B1 - xxxxx, loại xe Wave màu xanh, nhãn hiệu WAND, số khung: RPCDC63UM5A011792; số máy VUMDCYG150FMG-4P111792 cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 000841 cùng số tiền 1.100.000 đồng (một triệu một trăm nghìn đồng) Tịch thu tiêu hủy cây kéo bằng kim loại dài 25cm, cán bằng kim loại được ốp nhựa màu đen.

Các bị cáo Nguyễn Tuấn V và Võ Văn T có trách nhiệm giao nộp lại số tiền thu lợi bất chính 1.400.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

Các bị cáo Nguyễn Tuấn V, Võ Văn T và Nguyễn Phú V1 có trách nhiệm giao nộp lại số tiền thu lợi bất chính 1.100.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

(Vật chứng do Chi cục thi hành án dân sự huyện Tri Tôn quản lý, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18-01-2024 và ủy nhiệm chi ngày 25-01-2024).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Nguyễn Tuấn V, Võ Văn T, Nguyễn Phú V1, Dương Thị Bích N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo, nếu vắng mặt thì có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

61
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội trộm cắp tài sản số 04/2024/HS-ST

Số hiệu:04/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tri Tôn - An Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:20/02/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về