TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
BẢN ÁN 03/2024/HS-ST NGÀY 23/01/2024 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Ngày 23 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 20-8-2001. Nơi sinh: huyện T, tỉnh An Giang. Nơi cư trú: Tổ A, ấp G, xã L, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ và bà Lê Thị H; Vợ con chưa có; chị em ruột có 04 người, bị cáo là người thứ tư; Tiền án: Ngày 27-9-2023, bị Tòa án nhân dân huyện Tràng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” đang chấp hành án tại Trại giam T3, huyện T, tỉnh Long An; Tiền sự: không; bị cáo có mặt.
Bị hại: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1987; nơi cư trú: ấp N, xã L, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
Người làm chứng:
- Bà Lê Thị Cầm H1, sinh năm 1986, vắng mặt;
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1982, vắng mặt;
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1975, vắng mặt;
- Anh Nguyễn Nghĩa N, sinh năm 2005, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 28-3-2023, Nguyễn Văn Đ làm thuê quán nhậu tại nhà của ông Nguyễn Ngọc T, ngụ ấp N, xã L, huyện T, khi thấy vợ chồng ông T ra sau nhà bếp dọn phế liệu, không ai trông giữ nhà, Đ lén lấy chìa khóa, nổ máy lấy trộm xe mô tô biển số 69M1 - xxxxx nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER của ông T đang dựng trong nhà chạy đi, làm biển số xe vướng vào cửa nhà rơi xuống đất, Đ điều khiển xe bỏ trốn đến khu vực phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, thì bị lực lượng Công an kiểm tra và tạm giữ xe mô tô do không có biển số. Sau khi phát hiện bị mất trộm xe, ông T đến trình báo Công an xã L. Ngày 31-3-2023, Đ điện thoại cho ông T biết sự việc bị Công an tạm giữ xe mô tô.
Ngày 15-8-2023, Đ bị khởi tố để điều tra và đang bị tạm giam trong vụ án khác. Đến ngày 27-9-2023, Đ bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tuyên phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS (đã có hiệu lực pháp luật) và đến ngày 04-12-2023 Đ chấp hành án tại Trại giam T3 đến nay.
* Vật chứng thu giữ và xử lý: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, số khung RLCUG0610HY41562, số máy G3D4E435173; 01 biển số xe mô tô 69M1-xxxxx, đã trả cho bị hại Nguyễn Ngọc T.
* Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐG.TTHS ngày 13/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 01 xe mô tô không gắn biển số, nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, số khung RLCUG0610HY41562, số máy G3D4E435173, trị giá 9.000.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng Lê Thị Hồng C, Nguyễn Thị T1, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Nghĩa N có lời khai phù hợp với nội dung vụ án.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận định giá tài sản.
Bản cáo trạng số 52/CT-VKSTT ngày 14 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như nội dung cáo trạng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại, gây mất an ninh trật tự tại địa phương nên cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng xem xét đến các tình tiết như: Bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 219/2023/HS-ST ngày 27-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án là 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 02-7-2023.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, làm thuê sinh sống, thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Ngọc T không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.
Đối với số tiền 2.880.000 đồng mà ông T khai bị mất, bị can Đ không thừa nhận lấy trộm, xét ngoài lời khai của ông T thì không còn chứng cứ khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không quy kết số tiền này đối với bị cáo là có căn cứ.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng - Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người làm chứng trong vụ án, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Vì cần xe mô tô để sử dụng làm phương tiện nên đã trộm xe của ông T chạy lên tỉnh Đồng Nai thì bị Công an bắt giữ xe.
Xét thấy, lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai mà bị cáo đã khai nhận tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, đồng thời cũng phù hợp với Kết luận định giá tài sản số 27 ngày 13-6-2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T và các tài liệu, chứng cứ khác trong quá trình điều tra đã thu thập đúng pháp luật. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 28-3-2023, tại ấp N, xã L, bị cáo đã có hành vi lén lút lấy trộm xe mô tô biển số 69M1 - xxxxx nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER của ông T, trị giá xe mô tô mà bị cáo chiếm đoạt là 9.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “trộm cắp tài sản” nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, tạo nên tâm lý lo lắng, bất bình trong quần chúng nhân dân.
Bị cáo là người đã trưởng thành, có khả năng lao động để nuôi sống bản thân, nhưng vì bản tính tham lam, tư lợi, lười lao động lại muốn có tài sản phục vụ cho nhu cầu bản thân nên bị cáo đã lén lút lấy trộm xe mô tô của ông T. Vì vậy, cần phải áp dụng một chế tài hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo sớm trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Nhận thấy, bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Đối với số tiền 2.880.000 đồng mà ông T khai bị mất, bị can Đ không thừa nhận lấy trộm, xét ngoài lời khai của ông T thì không còn chứng cứ khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không quy kết số tiền này đối với bị cáo là có căn cứ.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Ngọc T không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, làm thuê sinh sống, thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm tù của bản án hình sự sơ thẩm số 219/2023/HS-ST ngày 27-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 02-7-2023 (ngày hai tháng bảy năm hai nghìn không trăm hai mươi ba).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo. Trường hợp vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về tội trộm cắp tài sản số 03/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 03/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Tri Tôn - An Giang |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 23/01/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về