TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
BẢN ÁN 02/2023/HS-ST NGÀY 07/02/2023 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Ngày 07 tháng 02 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2023/HSST ngày 09 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Thành L (tên gọi khác: Bớt), sinh năm 1996 tại Bà Rịa-Vũng Tàu; Nơi cư trú: 207A/ô 3 khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Chỗ ở: 207A/ô 3 khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Thợ sơn nước; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Ngọc L, sinh năm 1968 và bà Phạm Thị T, sinh năm 1970; Vợ con chưa có.
- Tiền sự: Không.
- Tiền án: Ngày 12/4/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 17/2021/HSST, chấp hành xong ngày 27/01/2022.
- Nhân thân:
+ Ngày 29/3/2012 bị Ủy ban nhân dân huyện Đất Đỏ đưa vào trường giáo dưỡng 24 tháng về hành vi trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 30/3/2014.
+ Ngày 10/12/2020 bị Công an xã Tam Phước, huyện L Điền xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản, đã nộp phạt ngày 25/12/2020.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 15/11/2022 có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Phạm Hữu H, sinh 1979; (Vắng mặt); Nơi cư trú: tổ 5, khu phố 1, phường L , thành phố B, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Đặng Ngọc L, sinh năm 1968; Địa chỉ: 207A/ô 3 khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau: Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 25/9/2022, Lê Thành L điều khiển xe mô tô biển số 72H1-04659 đến nghĩa trang tại xã Phước Hội, huyện Đất Đỏ để thấp hương cho bà ngoại, tại đây L phát hiện 01 chiếc xe rùa của ông Phạm Hữu H để gần những ngôi mộ đang xây dựng nên L nảy sinh ý định chiếm đoạt. L dừng xe lại đến lấy chiếc xe rùa để lên xe mô tô của L rồi chở đi bán, trên đường đi bị lực lượng Công an xã P kiểm tra bắt quả tang. Tại cơ quan điều tra L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Tang vật thu giữ là 01 chiếc xe rùa; 01 xe mô tô biển số 72H1-X.
Tại biên bản kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐGTS ngày 11/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đật Đỏ kết luận: 01 chiếc xe rùa có giá trị còn lại là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).
* Về trách nhiệm dân sự và xử lý tang vật của vụ án:
Cơ quan điều tra đã giao trả lại chiếc xe rùa cho ông H, ông H nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự; Đối với chiếc xe mô tô 72H1- X là tài sản hợp pháp của ông Đặng Ngọc L không biết L sử dụng xe đi trộm cắp nên cơ quan điều tra đã giao trả lại cho ông L.
Tại cáo trạng số 02/CT-VKSĐĐ ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ truy tố bị cáo Lê Thành L về tội “Trộm cắp tài sản" theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự xử xử phạt bị cáo mức án từ 09 (Chín) đến 12 (Mười hai) tháng tù.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đất Đỏ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát truy tố: Với bản chất tham lam, lười lao động mong muốn hưởng thụ trên tài sản của người khác, bị cáo bất chấp tài sản có giá trị lớn hay nhỏ, sao cho có tiền tiêu xài cho bản thân. Ngày 25/9/2022 khi phát hiện chiếc xe rùa dùng vào việc xây dựng của anh H đang để tại nghĩa trang không ai trông coi, bị cáo liền nảy sinh ý định chiếm đoạt. Bị cáo lấy chiếc xe rùa chở đi tiêu thụ thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
Hội đồng xét xử qua tiến hành tranh tụng công khai tại phiên tòa, xét lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có trong hồ sơ là phù hợp với nhau, phù hợp với chứng cứ thu thập được như: Biên bản xác định lại hiện trường, bản ảnh hiện trường, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, kết luận định giá tài sản. Bị cáo là người đã có tiền án về tội trộm cắp, chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp, tài sản chiếm đoạt có giá trị 200.000đ, nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Đủ cơ sở khẳng định bản cáo trạng số 02/2023/CT-VKSĐĐ ngày 09/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ truy tố bị cáo là đúng quy định của pháp luật.
Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi pham tội của bị cáo đã gây ra.
[3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, nhưng có một nhân thân rất xấu. Nhiều lần vi phạm pháp luật về hành vi chiếm đoạt, các lần xử phạt chưa đủ để răn đe, nên cần phải có mức án nghiêm để xứ lý bị cáo.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi bị phát hiện tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản chiếm đoạt có giá trị không lớn theo điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
[6] Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38. Điều 50 Bộ luật hình sự.
1/- Tuyên bố: Bị cáo Lê Thành L (Tên gọi khác: Bớt) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Thành L (tên gọi khác: Bớt) 09 (Chín) tháng tù thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 15/11/2022).
2/- Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
3/- Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.
4/- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5/- Trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 07/02/2023) bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án.
Bản án về tội trộm cắp tài sản số 02/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 02/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Đất Đỏ - Bà Rịa - Vũng Tàu |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 07/02/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về