Bản án về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy số 74/2023/HS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 74/2023/HS-ST NGÀY 29/07/2023 VỀ TỘI TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 29 tháng 7 năm 2023, tại Nhà văn hóa Hòa Phú 1B, phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 71/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Kim Ngọc Q - Sinh ngày 08.8.1991 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 02, phường T, quận T, TP Đà Nẵng; Chỗ ở: Số 47 đường T, phường H, quận T, TP Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Kim Ngọc L (sinh năm 1958) và bà Bùi Thị L (sinh năm 1957); Vợ Huỳnh Kim V (sinh năm 1988) và có 03 con (lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2022).

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 10.4.2023 bị Công an quận L, TP Đà Nẵng xử phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số 231/QĐ-XPHC.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/02/2023, sau đó chuyển tạm giam, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Ông Kim Thanh N – sinh năm 1988; Nơi ĐKHKTT: Tổ 02, phường T, quận T, TP Đà Nẵng; Địa chỉ: K53/8 đường C, phường A, quận T, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.

+ Ông Ngô Tiến T – sinh năm 1988; Địa chỉ: Tổ 03, phường T, quận T, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Văn Q1 – sinh năm 1989; Nơi ĐKHKTT: Tổ 2, phường B, quận B, TP Đà Nẵng; Địa chỉ: Số 101 đường H, phường H, quận C, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.

+ Ông Trần Văn N – sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Xuân T1 – sinh năm 1969; Địa chỉ: Số 114 đường Đ, phường C, quận T, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Xuân A – sinh năm 1973; Địa chỉ: Số 02/02 đường Th, phường T, quận H, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.

+ Ông Dương Nguyễn Quốc A1 – sinh năm 2004; Địa chỉ: K334/33 đường Đ, phường T, quận H, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.

+ Ông Trần Văn H – sinh năm 1999; Địa chỉ: Số 21 đường P, phường M, quận L, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 20 phút ngày 21.02.2023 tại Phòng 402 nhà hàng X, phường M, quận L, TP. Đà Nẵng, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an quận Liên Chiểu tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện Kim Ngọc Q đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý cùng với Kim Thanh N (sinh năm 1988, trú: Tổ 02, phường T, quận T, TP. Đà Nẵng) và Ngô Tiến T (sinh năm 1988, trú: Tổ 03, phường T, quận T, TP. Đà Nẵng) nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Kim Ngọc Q. Tang vật tạm giữ: 01 dĩa sứ trắng bên trên có chứa chất bột màu trắng nghi là chất ma tuý (kí hiệu A); 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuốn thành ống; 01 thẻ căn cước công dân mang tên Trần Văn N – số 048094005348; 01 bao ny lông rỗng (không chứa gì bên trong) và 01 điện thoại di động Samsung màu xanh, gắn thẻ sim số 0899.249.760 của Kim Ngọc Q.

Theo Bản kết luận giám định số: 164/KL-KTHS ngày 02/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A gửi giám định là ma túy, loại Ketamin, khối lượng 0,187 gam.

Quá trình điều tra, từ lời khai của Kim Ngọc Q, người liên quan và các vật chứng thu giữ xác định: Vào tối ngày 21.02.2023 sau khi nhậu xong thì Q, Kim Thanh N, Ngô Tiến T rủ nhau đến nhà hàng X để tiếp tục ăn uống, hát karaoke. Lúc này, do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma tuý nên Q liên hệ với một thanh niên tên Bin (chưa rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 02 viên ma tuý thuốc lắc và 01 gói ketamine với giá 2.200.000 đồng, việc Q liên hệ mua ma tuý thì N và T không biết và cũng không góp tiền cùng Q mua ma tuý. Một lúc sau có một thanh niên không rõ lai lịch đeo khẩu trang đi vào phòng và đổ ma tuý ketamine ra một dĩa sứ (dùng để đựng thức ăn có sẵn trong phòng) rồi dùng 01 thẻ căn cước công dân mang tên Trần Văn N để “xào” (nghiền mịn ma tuý) và bẻ đôi 02 viên ma tuý thuốc lắc bỏ lên dĩa rồi lấy tờ 10.000 đồng quấn thành ống hút. Sau khi làm xong, Q đưa 2.200.000 đồng cho người thanh niên này rồi người này đi ra. Q dùng ma tuý xong thì đưa dĩa sứ có ma tuý ketamine, thuốc lắc và ống hút cho N, T để sử dụng. Một lúc sau thì Q gọi điện rủ Nguyễn Văn Q1 (sinh năm 1989, trú: Tổ 02, phường B, quận L, TP. Đà Nẵng) đến, Q1 đến ngồi uống bia được một lúc thì về (Q1 không biết trong phòng có ma tuý và cũng như không sử dụng ma tuý cùng với Q).

Đến khoảng 22 giờ 20 phút ngày 21.02.2023 thì Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an quận Liên Chiểu phát hiện, bắt quả tang như đã nêu trên.

Tại Cáo trạng số 71/CT-VKS, ngày 10 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Kim Ngọc Q về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo Kim Ngọc Q, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Kim Ngọc Q từ 08 (tám) đến 09 (chín) năm tù.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động Samsung màu xanh (thu của Kim Ngọc Q); 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng đã được cuộn tròn thành ống hút.

- Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ ma túy được hoàn trả sau giám định; 01 đĩa sứ màu trắng; 01 thẻ căn cước công dân mang tên Trần Văn N – số 048094005348;

01 bao ny lông rỗng (không chứa gì bên trong) và 01 thẻ sim số 0899.249.760.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Kim Ngọc Q đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo xác nhận cáo trạng truy tố về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Bị cáo thấy được hành vi phạm tội, ăn năn hối cải, mong muốn HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về các hành vi và quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Kim Ngọc Q và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai nhận tội của bị cáo Kim Ngọc Q trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập có tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Khoảng tối ngày 21.02.2023, tại phòng 402 nhà hàng X, phường M, quận L, TP. Đà Nẵng, Kim Ngọc Q liên hệ mua 02 viên ma tuý thuốc lắc và 01 gói ketamine với giá 2.200.000 đồng và cùng Kim Thanh N, Ngô Tiến T sử dụng trái phép chất ma tuý. Khoảng 22 giờ 20 phút ngày 21.02.2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an quận Liên Chiểu tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang và đưa về trụ sở làm việc. Khối lượng ma tuý còn lại bị thu giữ là 0,187 gam ma túy loại Ketamine.

Hành vi nêu trên của bị cáo Kim Ngọc Q đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng “Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự như bản Cáo trạng số 71/CT-VKS, ngày 10 tháng 07 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Về tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Kim Ngọc Q là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm và tệ nạn trong xã hội, gây mất trật tự trị an và ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn thành phố. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, biết rõ tác hại của ma túy đối với đời sống xã hội và quy định của Nhà nước là nghiêm cấm mọi hành vi buôn bán, vận chuyển, tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép các chất ma túy nhưng vẫn cố ý phạm tội nên cần phải xử lý nghiêm.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt đối với bị cáo:

Bị cáo Kim Ngọc Q không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

HĐXX xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đề nghị là phù hợp với nhân thân, tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly ra ngoài xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với toàn bộ ma túy được hoàn trả sau giám định trong 01 phong bì niêm phong kèm theo kết luận giám định số 164/KLMT-KTHS ngày 02/3/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự, Công an TP. Đà Nẵng là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần phải tuyên tịch thu tiêu hủy theo như quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Đối với 01 đĩa sứ màu trắng; 01 bao ny lông rỗng (không chứa gì bên trong); 01 thẻ căn cước công dân mang tên Trần Văn N – số 048094005348 (do anh N làm mất, hiện nay đã làm lại thẻ căn cước mới, không có yêu cầu nhận lại); thẻ sim số 0899.249.760 của Kim Ngọc Q không có giá trị sử dụng nên cần phải tuyên tịch thu tiêu hủy theo như quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Đối với 01 điện thoại di động Samsung màu xanh (thu của Kim Ngọc Q); 01 ống hút được quấn bởi tờ tiền 10.000 đồng (Mười ngàn đồng) có liên quan đến hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước theo như quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

[6] Đối với Kim Ngọc Q, Kim Thanh N và Ngô Tiến T có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên Công an quận Liên Chiểu đã ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.

- Đối với Kim Thanh N, Ngô Tiến T, Nguyễn Văn Q1 không liên quan đến hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý của Kim Ngọc Q nên không xem xét, xử lý trách nhiệm hình sự là có căn cứ.

- Đối với thanh niên liên quan đến việc cung cấp ma túy và dụng cụ để sử dụng trái phép chất ma túy: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch của những người này nên tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau là có căn cứ.

- Đối với Nguyễn Xuân A – chủ cơ sở kinh doanh nhà hàng X, không biết và không liên quan đến việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý của bị cáo nhưng trong quá trình quản lý đã để các đối tượng trên thuê phòng sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an quận L có văn bản đề nghị UBND quận L ra quyết định xử phạt hành chính là có căn cứ.

- Đối với Căn cước công dân mang tên Trần Văn N – số 048094005348, qua điều tra xác định: Căn cước công dân này bị N đánh rơi vào trước tết nguyên đán năm 2023 và đã được cấp lại vào ngày 04/02/2023. N không biết lý do vì sao căn cước công dân này có tại phòng 402, nhà hàng X nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Liên Chiểu không xử lý là có căn cứ.

[8] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Kim Ngọc Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Kim Ngọc Q 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 21/02/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:

2.1. Tịch thu tiêu hủy:

- Toàn bộ ma túy được hoàn trả sau giám định trong 01 phong bì niêm phong kèm theo kết luận giám định số 164/KLMT-KTHS ngày 02/3/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự, Công an TP. Đà Nẵng.

- 01 đĩa sứ màu trắng; 01 bao ny lông rỗng (không chứa gì bên trong).

- 01 thẻ căn cước công dân mang tên Trần Văn N – số 048094005348.

- 01 thẻ sim số 0899.249.760 của Kim Ngọc Q.

2.2. Tịch thu sung công quỹ nhà nước:

- 01 điện thoại di động Samsung màu xanh (thu của Kim Ngọc Q).

- 01 tờ tiền 10.000 đồng (Mười ngàn đồng) được quấn thành ống hút.

(Toàn bộ vật chứng trên đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25 tháng 7 năm 2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu và Công an quận Liên Chiểu).

3. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Kim Ngọc Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; riêng những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

86
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy số 74/2023/HS-ST

Số hiệu:74/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Liên Chiểu - Đà Nẵng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 29/07/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về