Bản án về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy số 44/2023/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 44/2023/HS-ST NGÀY 27/04/2023 VỀ TỘI TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 27 tháng 4 năm 2023, tại Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân Kh - Sinh năm 1999, tại phường B, thị xã N, tỉnh H; Nơi cư trú: Tổ dân phố S, phường B, thị xã N, tỉnh H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông: Nguyễn Xuân T - Sinh năm: 1968 và con bà: Nguyễn Thị H - Sinh năm: 1973; Bị cáo chưa có vợ.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/02/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn Đ – Sinh năm 1994

2. Anh Cao Văn L – Sinh năm 2000

3. Anh Cao Văn D – Sinh năm 1992 Đều trú tại: Tổ dân phố H, phường M, thị xã N, tỉnh H

4. Chị Lương Thị H – Sinh năm 2007 Địa chỉ: Bản Na Kh, xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An

5. Anh Lê Năng T – Sinh năm 1994 Địa chỉ: Tổ dân phố Th, phường T, thị xã N, tỉnh H

6. Anh Lê Quang H – Sinh năm 1997 Địa chỉ: Thôn B, xã P, thị xã N, tỉnh H

7. Anh Trương Đình C – Sinh năm 1991 Địa chỉ: Thôn Q, xã T, thị xã N, tỉnh H

8. Chị Trương Thị T – Sinh năm 1998 Địa chỉ: Thôn Mùn B, xã Đ, huyện Ng, tỉnh H Tất cả người làm chứng nói trên đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 16/3/2022, Trương Đình C rủ một số người người bạn, gồm: Nguyễn Văn Đ , Cao Văn L, Lương Thị H, Cao Văn D, Lê Quang H cùng với vợ C là Lê Thị H và 02 con đến phòng VIP 1 Quán karaoke N ở tổ dân phố H, phường M, thị xã N, tỉnh H để tổ chức sinh nhật cho Lê Quang H. Sau khi hát một lúc thì C gọi điện cho anh Lê Năng T làm nghề lái taxi đến chở vợ và hai con của C về nhà trước. Quá trình hát, thì có thêm Trương Thị T và Nguyễn Xuân Kh là người quen của C vào phòng VIP 1 để hát cùng. Một lát sau, H và D đi về trước. Trước khi về, D đưa tiền cho C để thanh toán tiền hát. Lúc này, C nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng nên mượn điện thoại của một người đàn ông lạ mặt gọi điện cho một người có biệt danh “Chòe Đảng” hỏi mua 02 viên ma túy dạng “kẹo” và nửa “chỉ” ma túy “ke” với giá tiền 3.000.000 đồng. Khi ma túy được mang đến quán Karaoke, C đưa cho Kh 3.000.000 đồng và bảo Kh đi lấy ma túy. Kh đi ra bên ngoài quán, thì gặp một nam thanh niên lạ mặt, Kh đưa cho người này 3.000.000 đồng và nhận 01 túi nilon màu trắng, loại có quai xách bên trong có chứa 02 viên ma túy dạng “kẹo” và 01 túi ma túy dạng “ke”.

Sau khi lấy được ma túy, C bảo Kh chia ma túy để sử dụng; Kh mang ma túy xuống phòng bếp của quán, dùng dao chia 02 viên ma túy dạng “kẹo” thành các phần nhỏ, bỏ cùng với túi ma túy dạng “ke” lên 01 đĩa sứ màu trắng hình bầu dục lấy tại phòng bếp rồi bê vào phòng VIP 1. Khi vào phòng, Kh sử dụng một phần ma túy dạng “kẹo”, rồi đưa đĩa ma túy cho Trương Thị T, T để đĩa sứ ma túy xuống và cũng lấy một phần ma túy dạng “kẹo” sử dụng. Sau đó, T bê đĩa ma túy đưa cho H sử dụng nhưng H từ chối, T tiếp tục bê đĩa ma túy đưa cho Đ và L dùng, Đ và L , mỗi người sử dụng một phần ma túy dạng “kẹo”.

Sau khi sử dụng hết ma túy dạng “kẹo”, C đưa cho T 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng để cuốn ống hút làm công cụ sử dụng ma túy dạng “ke”. Khi T cuốn tờ tiền này thành dạng ống, Kh đưa cho T các đầu tẩu thuốc lá để cố định hai đầu ống. Tiếp đó, Kh đưa đĩa sứ cho T cầm, rồi dùng bật lửa đốt giấy vệ sinh để T hơ nóng đĩa sứ. Sau đó, Kh đổ ma túy dạng “ke” từ túi nilon ra đĩa sứ rồi đưa thẻ căn cước công dân của mình cho T và hướng dẫn T “xào” ma túy dạng “ke”. Sau khi xào ma túy xong, T đưa đĩa ma túy cho Kh cầm, Kh dùng thẻ căn cước công dân (mang tên Nguyễn Xuân Kh ) kẻ thành 02 đường ma túy rồi dùng tờ tiền đã được cuộn sẵn thành ống hút hít ma túy. Sau đó, Kh đưa đĩa ma túy cho T để xuống bàn trong phòng hát, sử dụng thẻ căn cước công dân kẻ các đường ma túy rồi đẩy đĩa sứ lại cho H sử dụng. Sau đó, C , T, Đ và L lần lượt sử dụng ma túy dạng “ke”. Sau khi các đối tượng sử dụng hết ma túy, thì Lê Năng T cũng quay trở lại phòng hát. Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 17/3/2022, tổ công tác Công an thị xã Nghi Sơn tiến hành kiểm tra hành chính Quán Karaoke N. Quá trình kiểm tra tại phòng VIP 1, các đối tượng Trương Đình C , Cao Văn L , Lương Thị H , Nguyễn Xuân Kh , Nguyễn Văn Đ , Trương Thị T khai nhận vừa có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản sự việc để làm căn cứ và bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn xử lý theo quy định của pháp luật.

Cơ quan C sát điều tra Công an thị xã Nghi Sơn tiến hành khám xét khẩn cấp quán Karaoke N, thu giữ tại giá để bát quầy lễ tân 02 đĩa xứ bầu dục màu trắng và 01 con dao; thu giữ trong phòng hát VIP1 01 bật lửa ga màu đỏ.

Cơ quan C sát điều tra Công an thị xã Nghi Sơn phối hợp với Trung T y tế thị xã Nghi Sơn tiến hành kiểm tra chất ma túy trong mẫu nước tiểu của các đối tượng Trương Đình C , Cao Văn L , Lương Thị H , Nguyễn Xuân Kh , Nguyễn Văn Đ , Trương Thị T và Lê Năng Tới. Kết quả: Mẫu nước tiểu của các đối tượng Trương Đình C , Cao Văn L , Lương Thị H , Nguyễn Xuân Kh , Nguyễn Văn Đ , Trương Thị T đều cho kết quả dương tính với chất ma túy loại Ketamine; mẫu nước tiểu của đối tượng Lê Năng T cho kết quả âm tính với chất ma túy.

T hành lấy lời khai của các đối tượng, Cơ quan điều tra có sử dụng biện pháp ghi âm, ghi hình có âm thanh, sau đó trích xuất toàn bộ dữ liệu ra 01 USB và 01 đĩa DVD. Tại Kết luận giám định số 1889/KL-KTHS, ngày 30 tháng 5 năm 2022, phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H giám định USB và đĩa DVD trên, kết luận: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 05 video của 01 USB và 01 đĩa DVD gửi giám định.

Tại Kết luận giám định số 1172/KL-KTHS, ngày 25/3/2022, phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H kết luận:

- Không tìm thấy chất ma túy trên bề mặt các tờ tiền niêm phong trong các phong bì ký hiệu T1, T2, T3, M2, M4;

- Tìm thấy chất ma túy, loại: Ketamine, trên bề mặt thẻ căn cước công dân số 03809902xxxx mang tên Nguyễn Xuân Kh niêm phong trong phong bì ký hiệu A, không xác định được khối lượng chất ma túy;

- Không tìm thấy chất ma túy trên bề mặt các đĩa sứ và con dao niêm phong trong hộp giấy.

Tại bản án số 08/2023/HSST ngày 11/01/2023 của Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn đã xử phạt Trương Đình C 07 năm 6 tháng tù và Trương Thị T 07 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Quá trình điều tra, Nguyễn Xuân Kh bỏ đi khỏi địa phương. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm đến ngày 20/02/2023 đã bắt được Nguyễn Xuân Kh tại xã Phương Liễu, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh để tiếp tục giải quyết theo quy định.

Về người đàn ông đã cho C mượn điện thoại liên lạc với người có biệt danh “Chòe Đảng” để mua ma túy, cũng như người bán ma túy cho C và người giao ma túy cho Kh , do C và Kh khai không quen biết, không rõ danh tính, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án.

Đối với Cao Văn L , Nguyễn Văn Đ , Lương Thị H đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, quá trình điều tra xác định những người này không tham gia tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an thị xã Nghi Sơn đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính các đối tượng trên theo quy định của pháp luật. Những người còn lại có mặt tại phòng hát, không tham gia và không biết việc C tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không xem xét xử lý.

Đối với bà Trần Thị L, chủ của quán Karaoke Ngọc L và anh Hồ Minh Th, là người được bà L ủy quyền quản lý quán, quá trình điều tra xác định những người này không biết việc Trương Đình C và các đồng phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng hát nên không phạm tội.

Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng: Đã được xử lý tại Bản án số 08/2023/HSST ngày 11/01/2023 của Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn khi xét xử Trương Đình C và Trương Thị T.

Riêng đồ vật thu giữ của Nguyễn Xuân Kh gồm: 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng; 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng; 02 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu T2); 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Xuân Kh (được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu A);

(Sau khi tiến hành giám định, Cơ quan giám định đã hoàn lại mẫu vật giám định, gồm toàn bộ bao gói mở niêm phong của phong bì ký hiệu A và 01 thẻ căn cước công dân số 03809902xxxx mang tên Nguyễn Xuân Kh , SN: 1999, nơi thường trú: Tổ dân phố Sơn Hải, phường Bình Minh, thị xã Nghi Sơn, tỉnh H đựng trong 01 phong bì ký hiệu H4 được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T, Lưu Bình N, Lê Ngọc H và các hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H và toàn bộ bao gói mở niêm phong của phong bì ký hiệu T2 và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng, 02 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được đựng trong 01 phong bì ký hiệu H4 được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T, Lưu Bình N, Lê Ngọc H và các hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H).

Các vật chứng, đồ vật còn nói trên hiện đã nhập kho Chi cục thi hành án thi hành án thị xã Nghi Sơn để chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với tờ tiền 50.000 đồng cuốn ống hút sử dụng ma túy và chiếc điện thoại của Trương Đình C có lưu số điện thoại của “Chòe Đảng”, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tiến hành các biện pháp điều tra, xác minh nhưng không thu giữ được.

Bản cáo trạng số 46/CT-VKSNS ngày 28/03/2023 của VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh H đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân Kh về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa Viện kiểm sát đề nghị:

- Áp dụng: Điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Xuân Kh .

- Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị xử phạt đối với bị cáo từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giam (20/02/2023). Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX tuyên: Trả lại cho bị cáo 01 (Một) thẻ căn cước công dân số 03809902xxxx mang tên Nguyễn Xuân Kh và 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng), 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng), 02 (Hai) tờ tiền mệnh giá 10.000đ (Mười nghìn đồng) vì không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Nghi Sơn, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đều khai và thừa nhận: Tối ngày 16/3/2022, tại phòng VIP 1 quán Karaoke N ở tổ dân phố Hải Lâm, phường Mai Lâm, thị xã Nghi Sơn, tỉnh H, bị cáo cùng với Trương Đình C và Trương Thị T đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho bản thân và 03 đối tượng khác là Cao Văn L , Nguyễn Văn Đ và Lương Thị H .

Tại phiên toà, đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh H thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận bị cáo: Nguyễn Xuân Kh phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

[3] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, bởi lẽ: Ma túy là một trong những đại họa mà toàn nhân loại phải đối mặt, là vấn đề đang còn nhức nhối, ám ảnh của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Nhận thức sâu sắc về tác hại của ma túy nên Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp nhằm tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống ma túy cũng như quyết T loại trừ các tệ nạn về ma túy ra khỏi đời sống xã hội. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau nên các tội phạm về ma túy vẫn chưa giảm mà lại có chiều hướng gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp hơn.

Để góp phần đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn ma túy ra khỏi đời sống xã hội ngoài công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng thì các cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương như: Công an, Viện kiểm sát và Tòa án đã tăng cường, phối hợp chặt chẽ công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm và tệ nạn ma túy, kiên quyết triệt xóa các tụ điểm phức tạp, không để gây bức xúc trong nhân dân. Điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, chọn các vụ án điểm về ma túy để xét xử nhằm tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật và tác hại của ma túy đối với đời sống xã hội để những người tham dự phiên tòa hiểu và rút ra bài học trong việc giáo dục con em mình về phòng tránh những hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến ma túy, góp phần nâng cao hiểu biết về kiến thức pháp luật cho người dân. Vận động nhân dân phát hiện tố giác tội phạm về ma túy nhằm góp phần tích cực vào công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm. Từ đó nêu cao tinh thần C giác, phòng ngừa tội phạm trên địa bàn dân cư để từng bước đẩy lùi và loại trừ tội phạm nguy hiểm này.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và lan tràn tệ nạn nghiện hút.

[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, HĐXX thấy rằng:

Tiền án, tiền sự: Không; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét sau khi phạm tội bị cáo đã bỏ đi khỏi địa phương gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng, làm cho vụ án phải kéo dài, cơ quan điều tra phải ra Quyết định truy tìm đối với bị cáo, đến ngày 20/02/2023 mới bắt được bị cáo tại xã Phương Liễu, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh do đó nay mới xét xử bị cáo được. Nên nghĩ cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục bị cáo cũng như răn đe và phòng ngừa chung.

[5] Về xử lý vật chứng: Trả lại cho Nguyễn Xuân Kh 01 (Một) thẻ căn cước công dân số 03809902xxxx mang tên Nguyễn Xuân Kh được đựng trong 01 (Một) phong bì niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T, Lưu Bình N, Lê Ngọc H và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H, ký hiệu H4, bên trong phong bì đựng toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì ký hiệu A và 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng), 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng), 02 (Hai) tờ tiền mệnh giá 10.000đ (Mười nghìn đồng) được đựng trong 01 phong bì ký hiệu H4 được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T, Lưu Bình N, Lê Ngọc H và các hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H) vì không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 500 triệu đồng..." Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” của bị cáo không nhằm mục đích thu lợi bất chính. Do đó, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Nguyễn Xuân Kh phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Nguyễn Xuân Kh 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giam (20/02/2023). Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Trả lại cho Nguyễn Xuân Kh 01 (Một) thẻ căn cước công dân số 03809902xxxx mang tên Nguyễn Xuân Kh được đựng trong 01 (Một) phong bì niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T, Lưu Bình N, Lê Ngọc H và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H, ký hiệu H4, bên trong phong bì đựng toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì ký hiệu A và 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng), 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng), 02 (Hai) tờ tiền mệnh giá 10.000đ (Mười nghìn đồng) được đựng trong 01 phong bì ký hiệu H4 được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T, Lưu Bình N, Lê Ngọc H và các hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H) vì không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

(Theo phiếu nhập kho số NK2023/13 ngày 16 tháng 12 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn).

Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo tại phiên tòa. Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

106
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy số 44/2023/HS-ST

Số hiệu:44/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Nghi Sơn - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:27/04/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về