TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
BẢN ÁN 26/2024/HS-ST NGÀY 02/04/2024 VỀ TỘI TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Ngày 02 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 2001, tại Đồng Tháp; Nơi thường trú và nơi ở hiện nay: Số F, Tổ F, Ấp C, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1978 và bà: Bùi Thị Hồng T2, sinh năm 1979; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ ngày 13/7/2023; Tạm giam ngày 22/7/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: Trần Quốc N, sinh năm 2000, tại Đồng Tháp; Nơi thường trú và nơi ở hiện nay: Tổ 61, Khóm E, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Không; Con ông: Trần Quốc N1, sinh năm 1971 và bà: Nguyễn Thị P, sinh năm 1971; Vợ tên: Lê Thùy T3, sinh năm 1987, có một người con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ ngày 13/7/2023; Tạm giam ngày 22/7/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo N: ông Thái Quang T4 là Luật sư Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Nguyễn Võ Duy A, sinh năm 1997 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi thường trú: Tổ 27, khóm C, phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
2. Nguyễn Thụy Tường D, sinh năm 1994 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi thường trú: Tổ 56, khóm D, phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
3. Nguyễn Ngọc T5, sinh năm 1994 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi thường trú: Tổ 66, khóm D, phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
4. Nguyễn Hồng H, sinh năm 2001 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi thường trú: Tổ 56, khóm D, phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 50 phút, ngày 12/7/2023, Nguyễn Văn T uống bia cùng Nguyễn Hồng H, Trần Quốc N, Nguyễn Võ Duy A, Nguyễn Thụy Tường D và Nguyễn Ngọc T5 tại đường số A, Khu D thuộc Tổ 27, Khóm C, Phường D, thành phố C đến khoảng 03 giờ ngày 13/7/2023 thì nghỉ. Lúc này, Nguyễn Văn T rủ N, H, Duy A, D và Nguyễn Ngọc T5 đến nhà mình tại địa chỉ số F, Tổ F, Ấp C, xã M, thành phố C để sử dụng ma túy do T5 tự cung cấp thì tất cả đồng ý.
Nguyễn Văn T chạy xe đi trước dẫn đường và trên đường Đ sử dụng điện thoại Nokia màu xanh gắn sim số 0896 666xxx liên lạc cho người tên N2 (không rõ nhân thân) hỏi mua ma túy số lượng “Nửa hộp năm loại ma túy Ketamine” và “05 viên nén dạng kẹo là ma túy loại MDMA” còn gọi là thuốc lắc với số tiền 3.750.000 đồng, hẹn địa điểm giao ma túy tại ngã ba đường vào nhà Văn Thông. Sau đó, Văn T và những người trong nhóm cùng về đến nhà Văn T6 rồi cùng vào phòng thứ 2 từ ngoài vào thì khoảng 10 phút sau, người tên N2 điện thoại cho Văn T6 đến điểm hẹn để giao ma túy, Văn T6 đã trả cho N2 số tiền 3.750.000 đồng, N2 giao cho Văn T6 01 bịch nylon bên trong chứa ma túy loại Ketamine và 05 viên nén dạng “kẹo” là ma túy loại MDMA. Văn Thông mang ma túy về nhà, nhà do ông Nguyễn Văn T1 là cha ruột của bị cáo T6 đứng tên chủ sở hữu nhưng thường xuyên vắng mặt và đã giao cho T6 quản lý sử dụng, thời điểm này T6 tổ chức sử dụng ma túy thì trong nhà không có ai vì mẹ ruột của T6 đã ly hôn không còn sống chung. T6 tự lấy đĩa sứ màu trắng có viền màu xanh, các tờ tiền và hộp quẹt đề nấu (xào) ma túy, T6 mở bịch nylon lấy 02 bịch ma túy Ketamine ra đổ lên tờ tiền, sử dụng hộp quẹt đốt nóng phía dưới tờ tiền rồi đổ lên đĩa sứ và hỏi những người trong phòng có thẻ nhựa cho mượn để xào ma túy thì Trần Quốc N đưa cho Văn T6 01 thẻ nhựa màu nâu, trên thẻ có in chừ “THẺ CƯ DÂN”, T6 dùng thẻ này đề cà nhuyễn (tán nhuyễn) ma túy Ketamine và kẻ ma túy Ketamine thành nhiều đường (len). Văn Thông tự chế ống hút bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và lấy 03 điếu thuốc lá nhãn hiệu JET tách lấy vỏ giấy màu vàng của đầu lọc rồi cuộn tròn tờ tiền thành dạng ống đưa vào trong 03 vỏ giấy. Sau khi đã nấu xong ma túy thì T6 là người sử dụng ma túy đầu tiên, tổng cộng T6 hút 02 đến 03 đường, tiếp theo Trần Quốc N, Nguyễn Hồng H, Nguyễn Võ Duy A, Nguyễn Ngọc T5 và Nguyễn Thụy Tường D sử dụng cuối cùng, riêng Duy A còn tự tách và sử dụng thêm 1/2 viên thuốc lắc loại ma túy MDMA. Khi cả nhóm đang sử dụng ma túy thì lực lượng Công an thành phố C phối hợp Công an xã M đến kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn T cùng Trần Quốc N có hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang lúc 09 giờ 00 phút cùng ngày, tạm giữ người cùng tang vật phạm tội gồm:
- 01 bịch nylon dạng túi kẹp màu trắng, có viền màu đỏ, trên bịch nylon có in hình con gấu màu vàng, bên trong chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong trong bao thư màu trắng ký hiệu A1.
- 01 bịch nylon dạng túi kẹp màu trắng, có viền màu đỏ, bên trong chứa 04 viên nén màu xanh, 01 mảnh viên nén màu xanh, được niêm phong trong bao thư màu trắng ký hiệu A2.
- 02 bịch nylon dạng túi kẹp màu trắng, có viền màu trắng, trên bịch nylon có in hình con gấu màu vàng, bên trong không có chứa gì; 01 bịch nylon dạng túi kẹp màu trắng có viền màu đỏ bên trong không chứa gì; 01 tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn dạng ống hút theo chiều dài có gắn 03 vỏ giấy màu vàng được niêm phong ghi ký hiệu A4; 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, 5.000 đồng do bị đốt nóng nên có màu đen được niêm phong ghi ký hiệu A6.
- 01 đĩa màu trắng bằng sứ, có viền màu xanh, trên đĩa có chất bột màu trắng, phía dưới đĩa dính khói màu đen, được thu giữ niêm phong trong bao thư ký hiệu A3.
- 01 thẻ nhựa màu nâu, trên thẻ có in chữ “THẺ CƯ DÂN” số 05859, trên thẻ có dính chất bột màu trắng của Trần Quốc N, được thu giữ niêm phong trong bao thư ký hiệu A5.
- 01 loa nghe nhạc màu đen hình trụ để mở nhạc, 01 đèn laser màu đen để chiếu sáng khi sử dụng ma túy nhưng không nhớ sử dụng điện thoại di động nào đề mở nhạc, 01 hộp quẹt gas màu đỏ, 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet, tất cả đã qua sử dụng. Do liên quan đến hành vi phạm tội.
- 01 USB lưu trữ 09 tập tin hình ảnh và 11 tập tin dạng video liên quan đến hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, lưu kèm hồ sơ vụ án.
- Tạm giữ:
+ Của Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh có sim số 0896 666xxx do sử dụng vào việc phạm tội.
+ Của Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng; của Nguyễn Võ Duy A 01 điện thoại di động hiệu iPhone 13 PRM màu xanh; của Trần Quốc N 01 điện thoại di động hiệu iPhone 13 PRM màu vàng và 01 máy đánh nhạc DJ hiệu PIONEESDJ số loại All-in-onedjsystem.XDJ-RX3; của Nguyễn Thụy T7 Duyên 01 điện thoại di động hiệu iPhone 13 PRM màu xanh lá; của Nguyễn Ngọc T5 01 điện thoại di động hiệu iPhone 12 màu xanh. Quá trình điều tra chứng minh, không sử dụng vào việc phạm tội nên đã trả lại cho các chủ sở hữu xong.
- Căn cứ Kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 13/7/2023, kết quả: Nguyễn Văn T, Trần Quốc N, Nguyễn Võ Duy A, Nguyễn Thụy Tường D, Nguyễn Ngọc T5, Nguyễn Hồng H đều dương tính với chất ma túy Ketamine và MDMA.
- Tại Bản kết luận giám định số: 737/KL-KTHS, ngày 19/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
+ Tinh thể rắn màu trắng chứa trong 01 bịch nylon dạng túi kẹp màu trắng, có viền màu đỏ, trên bịch nylon có in hình con gấu màu vàng, được niêm phong trong bao thư ký hiệu A1, gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,122gam, loại Ketamine, còn lại sau giám định là 0,101gam được niêm phong ghi số 764/1 ngày 13/7/2023.
+ 04 viên nén màu xanh, 01 mảnh viên nén màu xanh chứa trong 01 bịch nylon dạng túi kẹp màu trắng, có viền màu đỏ, được niêm phong trong bao thư ký hiệu A2 gửi giám định là chất ma túy, có tổng khối lượng là 1,604gam, loại MDMA, còn lại sau giám định là 0,887 gam được niêm phong ghi số 764/2 ngày 13/7/2023.
+ Chất bột màu trắng dính trên 01 đĩa màu trắng bằng sứ, có viền màu xanh, phía dưới đĩa dính khói màu đen, được thu giữ niêm phong ký hiệu A3, gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,015, loại Ketamine, đã sử dụng hết trong quá trình giám định còn đĩa sứ được niêm phong ghi số 764/3 ngày 13/7/2023.
+ Chất bột màu trắng dính trên 01 thẻ nhựa màu nâu, trên thẻ có in chữ “THẺ CƯ DÂN” và số 05859, được thu giữ niêm phong ký hiệu A5, gửi giám định là ma túy, không xác định được khối lượng, loại ketamine, đã sử dụng hết trong quá trình giám định, còn thẻ nhựa màu nâu được niêm phong ghi số 773 ngày 19/7/2023. Tất cả những chất ma túy trên do T5 mua của người tên N2 để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tại nhà của T5 địa chỉ số F, Tổ F, Ấp C, xã M, thành phố C, khi đang tổ chức sử dụng trái phép thì bị bắt quả tang nên các bị cáo cùng những người liên quan chưa sử dụng hết.
Trong quá trình điều tra và các chứng cứ thu thập được đủ căn cứ xác định Nguyễn Văn T và Trần Quốc N đã phạm vào tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như nội dung đã nêu trên. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng, các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 24/CT-VKS-TPCL ngày 26/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Quốc N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Áp dụng Điều 255 của Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Quốc N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị:
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T với mức án từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù.
+ Xử phạt bị cáo Trần Quốc N với mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có việc làm ổn định, không hưởng lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng như cáo trạng đã nêu.
* Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo N trình bày: Thống nhất với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều khoản của tội danh áp dụng đối với bị cáo N đề nghị xem xét các tình tiết: Bị cáo chỉ đồng phạm giúp sức chứ không giúp sức tích cực; Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình: Cha mẹ ly hôn nên bị cáo thiếu giáo dục của cha mẹ, có con nhỏ dưới bốn tuổi, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s, khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát. Các bị cáo không tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát thành phố C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cũng như nội dung bản cáo trạng số 24/CT-VKS-TPCL ngày 26/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh là đúng với hành vi của các bị cáo. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định:
Để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 03 giờ ngày 13/7/2023 Nguyễn Văn T và Trần Quốc N đã tổ chức cho các bị cáo và những người liên quan khác sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể: Văn T là người tự bỏ tiền và trực tiếp điện thoại liên lạc với người tên N2 hỏi mua “Nửa hộp năm loại ma túy Ketamine” và “05 viên nén dạng kẹo là ma túy loại MDMA” còn gọi là thuốc lắc với số tiền 3.750.000 đồng và sử dụng nhà của mình tại số F, tổ F, ấp C, xã M, thành phố C để tổ chức cho các bị cáo cùng bốn người khác sử dụng trái phép chất ma túy. Trần Quốc N đã giúp sức tích cực cho bị cáo Văn T bằng hành vi, biết bị cáo T đang chuẩn bị ma tuý để nhóm sử dụng, khi T hỏi trong nhóm ai có thẻ nhựa thì N đã đưa cho Văn T mượn 01 thẻ nhựa màu nâu, trên thẻ có in chữ “THẺ CƯ DÂN” của mình để T dùng thẻ này để cà nhuyễn (tán nhuyễn) ma túy Ketamine và kẻ ma túy Ketamine thành nhiều đường (len) phục vụ cho việc sử dụng ma tuý. Khi các bị cáo đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Nguyễn Võ Duy A, Nguyễn Thụy Tường D, Nguyễn Ngọc T5, Nguyễn Hồng H thì bị bắt quả tang lúc 09 giờ 00 phút ngày 13/7/2023.
[3] Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận, hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Quốc N đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự, như sau:
Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định:
1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a)............ b) Đối với 02 người trở lên;
...................
[4] Xét về hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây nguy hại lớn về nhiều mặt đối với đời sống xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương nơi xảy ra vụ án.
Khi thực hiện tội phạm, các bị cáo đã thành niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bản thân các bị cáo nhận thức rõ tác hại của việc sử dụng các chất ma túy là gây tổn hại đến thể chất, tinh thần của con người, nó cũng là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn về ma túy trong xã hội và phát sinh các loại tội phạm khác trong khi toàn xã hội đang kiên quyết đấu tranh phòng, chống các tệ nạn và các tội phạm về ma tuý. Đáng lý ra, các bị cáo phải biết tránh xa các chất ma túy, nhưng ngược lại, vì muốn thỏa mãn nhu cầu của cá nhân nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên. Các bị cáo nhận thức được hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện, chứng tỏ hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý và tội phạm đã hoàn thành. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để các bị cáo có thời gian học tập, cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội sau này, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.
Trong vụ án này, các bị cáo cùng thực hiện tội phạm nhưng không có sự câu kết chặt chẽ với nhau cũng như không có sự phân công, bàn bạc, sắp đặt vai trò cụ thể cho từng người khi thực hiện hành vi phạm tội. Nên đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên, xét về nhân thân, hành vi, động cơ, tính chất, mức độ và hậu quả trong việc phạm tội của từng bị cáo có khác nhau. Cho nên cũng cần xem xét vai trò của từng bị cáo: Đối với bị cáo T là người khởi xướng, rủ rê, tự bỏ tiền và trực tiếp liên hệ mua ma túy, chuẩn bị dụng cụ, địa điểm, phân ma túy để tổ chức cho các bị cáo và những người liên quan sử dụng ma túy nên bị cáo T chịu trách nhiệm chính. Đối với bị cáo N là người cung cấp dụng cụ là thẻ nhựa cho bị cáo Thông sử dụng để cà nhuyễn (tán nhuyễn) ma túy Ketamine và kẻ ma túy Ketamine thành nhiều đường (len) phục vụ cho việc sử dụng ma tuý nên bị cáo N giữ vai trò giúp sức tích cực.
[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định, không có thu lợi từ việc phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[8] Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Đối với 01 (một) bao thư niêm phong, ghi “Niêm phong số: 764/1, ngày 13/7/2023”. Bên trong chứa 0,101 gam chất ma túy, loại Ketamine còn lại sau khi đã trích mẫu phục vụ cho công tác giám định. Trên bao thư có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh Đ” và các chừ ký ghi họ tên Trương Thanh V, Nguyễn Thành T8, Nguyễn Phước L, Nguyễn Văn T; 01 (một) bao thư niêm phong, ghi “Niêm phong số: 764/2, ngày 13/7/2023”. Bên trong chứa 0,887 gam chất ma túy, loại MDMA còn lại sau khi đã trích mẫu phục vụ cho công tác giám định. Trên bao thư có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh Đ” và các chữ ký ghi họ tên Trương Thanh V, Nguyễn Thành T8, Nguyễn Phước L, Nguyễn Văn T, là vật mà Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) bao thư niêm phong, ghi “Niêm phong số: 764/3, ngày 13/7/2023”. Bên trong có chứa một đĩa sứ, chất ma túy đã sử dụng hết để phục vụ cho công tác giám định. Trên bao thư có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh Đ” và các chữ ký ghi họ tên Trương Thanh V, Nguyễn Thành T8, Nguyễn Phước L, Nguyễn Văn T; 01 (một) bao thư niêm phong, ghi “Niêm phong số: 773, ngày 19/7/2023”. Bên trong có chứa một thẻ nhựa màu nâu, chất ma túy đã sử dụng hết đề phục vụ cho công tác giám định. Trên bao thư có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh Đ” và các chừ ký ghi họ tên Nguyễn Văn Bé N3 và Đỗ Lê Phước T9; 02 (hai) bịch nylon dạng nắp kẹp, viền màu trắng, trên mỗi bịch nylon có in hình con gấu, đã qua sử dụng; 01 (một) bịch nylon dạng nắp kẹp, viền màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) bật lửa gas, màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) vỏ bao thuốc lá, nhãn hiệu JET, đã qua sử dụng; 01 (một) Loa nghe nhạc, màu đen, hình trụ, đã qua sử dụng; 01 (một) đèn Laser, màu đen, đã qua sử dụng, là công cụ dùng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) bao thư niêm phong, ghi ký hiệu A4. Bên trong có chứa một tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng, được cuộn lại thành dạng ống hút và được cố định bằng 03 vỏ đầu lọc thuốc lá. Trên bao thư có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Công an xã M - Công an thành phố Cao Lãnh” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Phước L, Võ Quang N4, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn T; 01 (một) bao thư niêm phong, ghi ký hiệu A6. Bên trong có chứa một tờ tiền Việt Nam mệnh giá 5.000 đồng, trên tờ tiền có vết màu nâu và một tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000 đồng, trên tờ tiền có vết màu nâu. Trên bao thư có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Lãnh” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Phước L, Nguyễn Văn T; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu NOKIA, màu xanh, sim: 08966665xx, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, là công cụ dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, sung vào Ngân sách Nhà nước.
(Hiện vật chứng đang được Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh tạm quản lý, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/02/2024).
[9] Các vấn đề khác:
- Đối với Nguyễn Võ Anh D1, Nguyễn Thụy Tường D, Nguyễn Ngọc T5, Nguyễn Hồng H có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã tách hồ sơ chuyển đến Công an thành phố C để xử lý hành chính theo quy định của pháp luật.
- Đối với người tên N2 đã bán ma túy cho T5, do không rõ nhân thân nên không có căn cứ xử lý.
- Đối với khối lượng ma túy lúc bắt quả tang còn lại lúc thu giữ là được để bên ngoài và không được cất giấu để dành lại sử dụng cho lần sau, mục đích các bị cáo mua khối lượng ma túy về đề cùng nhau sử dụng hết cho lần này nhưng trong lúc đang sử dụng thì bị bắt quả tang nên chưa sử dụng hết là khách quan ngoài ý muốn. Đồng thời khối lượng ma túy còn lại không đủ định lượng và tương ứng với số lượng bị cáo và các con nghiện đang sử dụng trong lần bắt quả tang nên khối lượng ma túy còn lại mục đích tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thành phố C về tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt và các vấn đề khác là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
[11] Xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo N cho rằng bị cáo N chỉ có vai trò giúp sức chứ không giúp sức tích cực, như đã phân tích trên là có căn cứ chấp nhận một phần.
[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[13] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Quốc N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/7/2023.
Xử phạt bị cáo Trần Quốc N 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/7/2023.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) bao thu niêm phong, ghi “Niêm phong số: 764/1, ngày 13/7/2023”. Bên trong chứa 0,101 gam chất ma túy, loại Ketamine còn lại sau khi đã trích mẫu phục vụ cho công tác giám định. Trên bao thu có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh Đ” và các chữ ký ghi họ tên Truong Thanh V, Nguyễn Thành T8, Nguyễn Phước L, Nguyễn Văn T; 01 (một) bao thư niêm phong, ghi “Niêm phong số: 764/2, ngày 13/7/2023”. Bên trong chứa 0,887 gam chất ma túy, loại MDMA còn lại sau khi đã trích mẫu phục vụ cho công tác giám định. Trên bao thư có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh Đ” và các chữ ký ghi họ tên Trương Thanh V, Nguyễn Thành T8, Nguyễn Phước L, Nguyễn Văn T; 01 (một) bao thư niêm phong, ghi “Niêm phong số: 764/3, ngày 13/7/2023”. Bên trong có chứa một đĩa sứ, chất ma túy đã sử dụng hết đề phục vụ cho công tác giám định. Trên bao thư có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh Đ” và các chữ ký ghi họ tên Trương Thanh V, Nguyễn Thành T8, Nguyễn Phước L, Nguyễn Văn T; 01 (một) bao thư niêm phong, ghi “Niêm phong số: 773, ngày 19/7/2023”. Bên trong có chứa một thẻ nhựa màu nâu, chất ma túy đã sử dụng hết để phục vụ cho công tác giám định. Trên bao thư có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh Đ” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Văn Bé N3 và Đỗ Lê Phước T9; 02 (hai) bịch nylon dạng nắp kẹp, viền màu trắng, trên mỗi bịch nylon có in hình con gấu, đã qua sử dụng; 01 (một) bịch nylon dạng nắp kẹp, viền màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) bật lửa gas, màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) vỏ bao thuốc lá, nhãn hiệu JET, đã qua sử dụng; 01 (một) Loa nghe nhạc, màu đen, hình trụ, đã qua sử dụng; 01 (một) đèn Laser, màu đen, đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) bao thư niêm phong, ghi ký hiệu A4. Bên trong có chứa một tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng, được cuộn lại thành dạng ống hút và được cố định bằng 03 vỏ đầu lọc thuốc lá. Trên bao thư có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Công an xã M - Công an thành phố Cao Lãnh” và các chừ ký ghi họ tên Nguyễn Phước L, Võ Quang N4, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn T; 01 (một) bao thư niêm phong, ghi ký hiệu A6. Bên trong có chứa một tờ tiền Việt Nam mệnh giá 5.000 đồng, trên tờ tiền có vết màu nâu và một tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000 đồng, trên tờ tiền có vết màu nâu. Trên bao thư có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Lãnh” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Phước L, Nguyễn Văn T; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu NOKIA, màu xanh, sim: 08966665xx, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
(Hiện vật chứng đang được Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh tạm quản lý, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/02/2024).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Quốc N, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Bản án về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy số 26/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 26/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Cao Lãnh - Đồng Tháp |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 02/04/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về