TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
BẢN ÁN 79/2023/HS-PT NGÀY 14/04/2023 VỀ TỘI TỔ CHỨC ĐÁNH BẠC VÀ ĐÁNH BẠC
Ngày 14/4/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 79/TLPT-HS, ngày 16 tháng 03 năm 2023, đối với bị cáo Đặng Thị L về tội “Tổ chức Đánh bạc” và “Đánh bạc”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 02/2023/HS-ST, ngày 09/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Đặng Thị L; sinh năm: 1969, tại huyện CX, tỉnh HT; Nơi cư trú: Thôn 2, xã EK, huyện EK, tỉnh Đắk Lắk; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Đặng Văn H, sinh năm 1928 (đã chết); Con bà Phan Thị K, sinh năm 1940; Chồng: Hoàng Văn T, sinh năm 1967, bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 1993; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/9/2022 đến ngày 20/9/2022, bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo: Trịnh Quốc A, Mai Thị B, Phan Xuân C, Phan Thị D, Đặng Danh G, Phan Thị H, Võ Quang L nhưng không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 14/9/2022, Đặng Thị L sử dụng điện thoại di động gọi cho Mai Thị B, Đặng Danh Q và Trần Thị H, rủ đến nhà L tại thôn 2, xã EK, huyện EK để đánh bạc thì B, Q và H đồng ý. Sau đó, Trần Thị H gọi điện thoại rủ Trịnh Quốc A; Mai Thị B rủ Võ Quang L và Phan Xuân C (là chồng của B) đến nhà L đánh bạc thì cũng được những người này đồng ý. Khoảng 13 giờ 00 cùng ngày, B, Q, H, C đi đến nhà L, lúc này có Phan Thị D cũng đi đến, L rủ D tham gia đánh bạc thì D đồng ý. Sau đó L trải 01 chiếc chiếu xuống nền nhà phòng khách, trải 01 chăn lên trên và đặt 02 bộ bài tú lơ khơ lên chiếu bạc để cho C, H, A và L ngồi đánh bạc ở phòng khách; L tiếp tục đi đến phòng ngủ số 02 (tính từ trước ra sau) trải 01 chiếc chiếu xuống nền nhà và đặt 02 bộ bài tú lơ khơ lên trên để L, B, Q, D ngồi đánh bạc; khi đánh bạc tất cả thống nhất thu tiền xâu và sau khi kết thúc việc đánh bạc tổng số tiền xâu thu được sẽ đưa cho chủ nhà là L. Khi đánh bạc số người nêu trên thống nhất chia làm 02 chiếu bạc, cụ thể như sau:
- Tại chiếu bạc thứ nhất ở phòng khách: C, H, A và L thống nhất đánh bạc dưới hình thức đánh “Phỏm”. Khi tham gia đánh bạc H đem theo số tiền 4.700.000 đồng (bốn triệu bảy trăm nghìn đồng) để đánh bạc, ban đầu H bỏ xuống chiếu số tiền 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng), còn lại 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng) H cất trong túi để khi nào thua hết tiền thì lấy ra đánh tiếp; C bỏ xuống chiếu số tiền 1.920.000 đồng (một triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng), A bỏ xuống chiếu số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), L bỏ xuống chiếu số tiền 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm nghìn đồng) rồi tất cả cùng nhau đánh bạc.
- Tại chiếu bạc ở phòng ngủ số 02: L, B, Q và D thống nhất với nhau đánh bạc thắng, thua bằng tiền dưới hình thức đánh “Phỏm”. B dùng số tiền 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm nghì đồng) để đánh bạc, B bỏ xuống chiếu số tiền 1.100.000 đồng (một triệu một trăm nghìn đồng) còn lại 3.400.000 đồng (ba triệu bốn trăm nghìn đồng) B để trong túi quần để khi thua hết tiền thì lấy ra đánh tiếp. D bỏ xuống chiếu 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), L bỏ xuống chiếu 1.100.000 đồng (một triệu một trăm nghìn đồng), Q bỏ xuống chiếu số tiền 1.010.000 đồng (một triệu không trăm mười nghìn đồng) rồi tất cả cùng nhau đánh bạc.
Khoảng 16 giờ 50 phút cùng ngày, khi C, H, A, L, L, B, Q và D đang đánh bạc tại nhà L thì bị lực lượng Công an huyện Ea Kar phát hiện, bắt quả tang, thu giữ như sau:
- Tại chiếu bạc ở phòng khách, tổng số tiền bị thu giữ là 9.920.000 nghìn đồng (chín triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng), trong đó số tiền trên chiếu bạc là 9.280.000 đồng (chín triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng) và số tiền xâu là 640.000 đồng (sáu trăm bốn mươi nghìn đồng).
- Tại chiếu bạc ở phòng ngủ số 02 thu giữ tổng số tiền 7.110.000 đồng (bảy triệu một trăm mười nghìn đồng). Tổng số tiền thu giữ tại 02 chiếu bạc khi bắt quả tang là 17.030.000 đồng (mười bảy triệu không trăm ba mươi nghìn đồng) cùng tang vật liên quan.
Vật chứng thu giữ:
- Thu giữ trên chiếu bạc: số tiền 17.030.000 đồng; 04 bộ bài tú lơ khơ, mỗi bộ 52 lá; 02 chiếc chiếu và 01 chăn.
- Tạm giữ của Đặng Thị L: 01 (một) điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy; Mai Thị B: 01 (một) điện thoại di động hiệu IPhone; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, biển kiểm soát 47F1 – 037.47; Phan Thị D: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 47F1 – 051.19; Đặng Danh Q: 01 (một) điện thoại di động hiệu Sam Sung; Trần Thị H: 01 (một) điện thoại di động hiệu Sam Sung; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SYM Atila, biển kiểm soát 47F1 – 117.48; Võ Quang L: 01 (một) điện thoại di động hiệu I Phone; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade biển kiểm soát 47F1 – 022.23; Trịnh Quốc A: 01 (một) điện thoại di động hiệu I Phone; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 98Y3 – 5257; Phan Xuân C: 01 (một) điện thoại di động hiệu I Phone.
- Căn phòng mà các bị cáo sử dụng để đánh bạc là tài sản chung của Đặng Thị L và ông S nhưng ông S không biết việc L sử dụng làm địa điểm cho các bị cáo đánh bạc. Qua định giá căn phòng có giá trị 22.142.754 đồng (hai mươi hai triệu một trăm bốn mươi hai nghìn bảy trăm năm mươi tư đồng), bị cáo L đã tự nguyện nộp số tiền 11.071.377đồng tương đương giá trị ½ căn phòng khách do đó không tiến hành kê biên.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 02/2023/HS-ST, ngày 09/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thị L phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Thị L 01 năm tù về tội “ Tổ chức đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Thị L 07 tháng tù về tội “ Đánh bạc”.
Áp dụng Khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Đặng Thị L phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 01 (một) năm 07 (bảy) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/9/2022 đến ngày 20/9/2022.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo Trịnh Quốc A, Mai Thị B, Phan Xuân C, Phan Thị D, Đặng Danh G, Phan Thị H, Võ Quang L, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 17/01/2023 bị cáo Đặng Thị L kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng và bản án hình sự sơ thẩm đã được tóm tắt nêu trên.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo Đặng Thị L tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a khoản 1 Điều 322 BLHS và tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là tương xứng với tính chất mức độ cũng như đã xem xét, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Thị L, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập, đánh giá có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 14/9/2022, Đặng Thị L sử dụng điện thoại di động gọi cho Mai Thị B, Đặng Danh Q và Trần Thị H, rủ đến nhà L tại thôn 2, xã EK, huyện EK để đánh bạc. Sau đó, Trần Thị H gọi điện thoại rủ Trịnh Quốc A; Mai Thị B rủ Võ Quang L và Phan Xuân C. Khoảng 13 giờ 00 cùng ngày, B, Q, H, C đi đến nhà L, lúc này có Phan Thị D cũng đi đến, L rủ D tham gia đánh bạc thì D đồng ý. Sau đó L trải 01 chiếc chiếu xuống nền nhà phòng khách, trải 01 chăn lên trên và đặt 02 bộ bài tú lơ khơ lên chiếu bạc để cho C, H, A và L ngồi đánh bạc ở phòng khách; L tiếp tục đi đến phòng ngủ số 02 (tính từ trước ra sau) trải 01 chiếc chiếu xuống nền nhà và đặt 02 bộ bài tú lơ khơ lên trên để L, B, Q, D ngồi đánh bạc; khi đánh bạc tất cả thống nhất thu tiền xâu và sau khi kết thúc việc đánh bạc tổng số tiền xâu thu được sẽ đưa cho chủ nhà là L. Khi đánh bạc số người nêu trên thống nhất chia làm 02 chiếu bạc và thống nhất đánh bạc ăn tiền với hình thức đánh phỏm:
Khoảng 16 giờ 50 phút cùng ngày, khi C, H, A, L, L, B, Q và D đang đánh bạc tại nhà L thì bị lực lượng Công an huyện Ea Kar phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc ở phòng khách, tổng số tiền bị thu giữ là 9.920.000 nghìn đồng trong đó số tiền trên chiếu bạc là 9.280.000 đồng và số tiền xâu là 640.000 đồng; Tại chiếu bạc ở phòng ngủ số 02 thu giữ tổng số tiền 7.110.000 đồng. Tổng số tiền thu giữ tại 02 chiếu bạc khi bắt quả tang là 17.030.000 đồng cùng tang vật liên quan.
Do đó, bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đặng Thị L về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a khoản 1 Điều 322 BLHS; các bị cáo Đặng Thị L, Mai Thị B, Phan Thị D, Đặng Danh Q, Trần Thị H, Võ Quang L, Trịnh Quốc A và Phan Xuân C về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[2]. Xét kháng cáo của bị cáo Đặng Thị L xin giảm nhẹ hình phạt, thì thấy: Mức hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Đặng Thị L 01 (Một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc” là thoả đáng tương xứng với tính chất mức độ hành vi của bị cáo, cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS mà bị cáo được hưởng. Tại cấp phúc thẩm bị cáo có cung cấp thêm tình tiết có bố mẹ được tặng thưởng huân chương kháng chiến. Tuy nhiên, xét thấy mức hình phạt mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, không nặng. Do vậy, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo mà cần giữ nguyên mức hình phạt của Bản án sở thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp.
[3]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đặng Thị L phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Không Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Thị L giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 02/2023/HS-ST, ngày 09/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk
[2] Về mức hình phạt:
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Thị L 01 năm tù về tội “ Tổ chức đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Thị L 07 tháng tù về tội “Đánh bạc”.
Áp dụng Khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Đặng Thị L phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 01 (một) năm 07 (bảy) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/9/2022 đến ngày 20/9/2022.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đặng Thị L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc số 79/2023/HS-PT
| Số hiệu: | 79/2023/HS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Cao Bằng |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 14/04/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về